BÁO CÁO Kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới đến năm 2023 của huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

 

CV%201731.pdf

I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG

1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện

1.1. Về điều kiện tự nhiên:

Trà Cú là huyện có tổng diện tích tự nhiên 317,53 km2, phía Bắc giáp huyện Tiểu Cần và huyện Châu Thành, phía Đông giáp huyện Cầu Ngang và huyện Duyên Hải, phía nam giáp huyện Duyên Hải, phía Tây giáp Sông Hậu. Huyện cách trung tâm tỉnh Trà Vinh 34km về hướng Tây Nam. Toàn huyện có 15 xã[1], 02 thị trấn[2], 124 ấp, khóm. Đất nông nghiệp 26.283,50 hécta, đất phi nông nghiệp 5.469,29 hécta.

Toàn huyện có 43.369 hộ với 147.419 nhân khẩu (trong đó có 26.857 hộ đồng bào dân tộc khmer chiếm 61,93%); hiện huyện có 398 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 0,92% so với tổng số hộ dân cư trên địa bàn huyện, có 924 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 2,13% so với tổng số hộ dân cư.

Hệ thống giao thông đã được nhựa hóa và bê tông hóa với tổng chiều dài 778,16km đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa. Trong đó: Quốc lộ 53 dài 24,5km đi qua các xã Đại An, Hàm Giang, Thanh Sơn, Thị trấn Trà Cú, Ngãi Xuyên và Tập Sơn; Quốc lộ 54 dài 22km chạy dài từ Phước Hưng, Tập Sơn, Tân Sơn; Đường tỉnh 911 dài 7,8km đi ngang các xã Phước Hưng, Tân Hiệp, Long Hiệp, Ngọc Biên; Đường tỉnh 914 dài 1,7km đi qua xã Đại An và đường tỉnh 915 dài 21km đi qua các xã Đại An, Định An, Hàm Tân, Kim Sơn, Lưu Nghiệp Anh, An Quảng Hữu.

Hệ thống thủy lợi đáp ứng nhu cầu sản xuất vừa đảm bảo lưu thông và giao thương hàng hóa. Trong đó có kênh trục 3/2 dài 16km đi qua các xã Phước Hưng, Tân Hiệp, Long Hiệp, Ngọc Biên và sông Hậu dài 20km từ Thị trấn Định An giáp huyện Duyên Hải đi qua các xã, thị trấn: Thị trấn Định An, Định An, Hàm Tân, Kim Sơn, Lưu Nghiệp Anh, An Quảng Hữu.

1.2. Về Kinh tế - xã hội:

  Năm 2023, giá trị sản xuất toàn huyện được 13.953,73 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch, so năm 2022 tăng 11,5%. Trong đó: Khu vực I: 5.659,69 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch, khu vực II: 4.591,04 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch, khu vực III: 3.703 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Khu vực I (nông nghiệp, thủy sản) chiếm 40,56%; khu vực II (công nghiệp và xây dựng) chiếm 32,9%; khu vực III (thương mại – dịch vụ) chiếm 26,54%.

* Lĩnh vực nông nghiệp:

- Trồng trọt, chăn nuôi: Chiếm thế mạnh của địa phương do đó huyện đã mạnh dạn chuyển đổi đất trồng lúa, mía kém hiệu quả sang cây trồng vật nuôi phù hợp với từng tiểu vùng sản xuất. Áp dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, cơ cấu lại mùa vụ, bố trí lại cây trồng vật nuôi phù hợp với từng mùa vụ, từng thời điểm thích hợp. Bình quân năng suất lúa đạt 5,8 tấn/ha , giá trị sản xuất bình quân trên 01 ha đất nông nghiệp thủy sản đạt 266,46 triệu đồng/năm. Thực hiện tốt các chương trình để nâng cao chất lượng đàn gia súc, gia cầm; tăng cường phòng ngừa dịch bệnh có hiệu quả, tổng đàn gia súc, gia cầm hiện có 1.981.126 con (trong đó gia súc 105.630 con, gia cầm 1.875.496 con).

- Thủy sản: Huyện chỉ đạo chuyển đổi đất sản xuất mía kém hiệu quả sang nuôi thủy sản đồng thời tập trung xây dựng vùng nuôi thủy sản tập trung ở các xã ven sông Hậu. Toàn huyện có diện tích 1.700 ha đất nuôi thủy sản có hơn 5.000 lượt hộ thả nuôi với sản lượng hàng năm 55.090 tấn bao gồm các đối tượng nuôi như: Tôm thẻ chân trắng, tôm càng xanh, tôm sú, cua biển, cá lóc, cá thác lác, ... Ngoài ra huyện còn có 188 tàu khai thác thủy hải sản biển. Trong đó có 88 tàu có công suất >90 CV, với sản lượng đánh bắt hàng năm đạt 28.450 tấn/năm. Tổng sản lượng nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản hàng năm đạt 83.540 tấn/năm, từ đó góp phần đáng kể trong việc tăng thu nhập cho người dân nông thôn.

* Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

+ Trên địa bàn huyện hiện có 03 làng nghề được công nhận làng nghề truyền thống Làng nghề Tiểu thủ công nghiệp xã Hàm Giang theo Quyết định số 2314/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc công nhận Làng nghề tiểu thủ công nghiệp xã Hàm Giang, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh; Làng nghề Tiểu thủ công nghiệp Đại An, xã Đại An theo Quyết định số 2030/QĐ-UBND ngày 31/12/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc công nhận Làng nghề tiểu thủ công nghiệp Đại An, xã Đại An, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh; Làng nghề dệt chiếu xã Hàm Tân theo Quyết định số 2315/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc công nhận Làng nghề dệt chiếu xã Hàm Tân, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Làng nghề dệt chiếu xã Hàm Tân có 01 nghệ nhân bà Ngô Thị Xuân (Ngô Thị Pho, Cô Hai Pho) được công nhận Nghệ nhân ưu tú theo Quyết định số 2533/QĐ-CTN ngày 13 tháng 11 năm 2015 của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Các làng nghề trên địa bàn huyện đang được duy trì và sản xuất ổn định, tổng doanh thu đạt trên 30 tỷ đồng/năm. Hàng năm thu hút khoảng 2.956 lao động (trong đó lao động thường xuyên 2.125 lao động, lao động thời vụ 831 lao động). Thu nhập bình quân của các lao động từ 4,5 - 6 triệu đồng/người/tháng. Thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề gồm các tỉnh: Bình Dương, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Bạc Liêu, Bến Tre, Sân bay Tân Sơn Nhất - thành phố Hồ Chí Minh (SASCO), thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ; Khu du lịch Hòa Vĩnh – Bình Thuận, Phan Thiết, Khu du lịch Phước Lâm – Đồng Nai, Khu du lịch Bảy Nghiệp - Châu Thành, tỉnh Bến Tre, Khu du lịch Mỹ An - tỉnh Đồng Tháp, Khu du lịch đầm Sen - thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Khu du lịch Cồn Khương – thành phố Cần Thơ, Khu du lịch Di tích quân đội – thành phố Cần Thơ, Khu du lịch Bình Hòa Phú – tỉnh Vĩnh Long và các nhà hàng, quán ăn theo nhu cầu của khách hàng. Huyện có 02 sản phẩm OCOP đạt chuẩn 3 sao (bộ đồ dùng sinh hoạt nông thôn thu nhỏ và chiếu Cà Hom), 01 sản phẩm đạt OCOP 4 sao (bộ salon tre).

* Thương mại – dịch vụ

Năm 2023, tổng giá trị sản xuất được 3.703 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch. Trên địa bàn huyện hiện có 14 chợ đang hoạt động, đến nay đã thực hiện  việc chuyển đổi, giao cho doanh nghiệp (Hợp tác xã) quản lý 02 chợ (Đại An, thị trấn Trà Cú). Hệ thống chợ trong huyện từng bước được đầu tư nâng cấp, mở rộng đáp ứng yêu cầu ngày càng tốt hơn phát triển thương mại và dịch vụ, giao lưu hàng hóa với tổng kinh phí đầu tư 11,085 tỷ đồng. Đồng thời huyện đã thực hiện chỉ đạo sắp xếp, chỉnh trang chợ, cung ứng đầy đủ các loại hàng hóa, không để xảy ra tình trạng “sốt giá”, ngoài ra các siêu thị mi ni, bách hóa xanh và các cửa hàng tiện lợi phát triển mạnh trên địa bàn đã đáp ứng nhu cầu mua sắm của nhân dân.

Hoàn thành đề án phát triển du lịch giai đoạn 2020-2025 và tầm nhìn đến năm 2030 phát huy tiềm năng, lợi thế du lịch sinh thái, văn hóa - lễ hội và du lịch cộng đồng để thu hút các nguồn lực đầu tư.

* Thu ngân sách

Năm 2023, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 1.128.538 triệu đồng[3], trong đó: Thu theo dự toán: 60.000 triệu đồng, đạt 100 % so dự toán[4]; Các khoản thu không giao dự toán: 283.613 triệu đồng; Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên: 784.925 triệu đồng. Hàng năm thu ngân sách nhà nước đều đạt và vượt chỉ tiêu, bình quân tăng thu hàng năm đạt 5%. Trong chi ngân sách đảm bảo tết kiệm, chống lãng phí, thất thoát, tăng chi đầu tư phát triển, chi sự nghiệp y tế và giáo dục đào tạo.

* Dân số, lao động và việc làm: Huyện có 43.369 hộ với 147.419 nhân khẩu (trong đó có 26.857 hộ đồng bào dân tộc Khmer chiếm 61,93% so tổng số hộ dân). Thu nhập bình quân đầu người năm 2023 đạt 62,66 triệu đồng/người/năm (tăng 35,79 triệu đồng so năm 2016). Năm 2023 qua rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo định kỳ theo Nghị định số 07/2021/NĐ-CP, huyện còn 1.011 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 2,33% (giảm 1,19 % so năm 2016) so với tổng số hộ dân cư trên địa bàn huyện (trong đó, có 613 hộ nghèo không có khả năng lao động), hộ cận nghèo còn 1.216 hộ, chiếm tỷ lệ 2,80% so với tổng số hộ dân cư trên địa bàn (trong đó, có 292 hộ cận nghèo không có khả năng lao động) và toàn huyện có 15/15 xã có tỷ lệ nghèo đa chiều dưới 4%, trong đó có 04 xã (Tập Sơn, Đại An, Ngọc Biên và Long Hiệp) có tỷ lệ nghèo đa chiều dưới 2,5%. Huyện có 109.946/118.143 người trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động và có việc làm, đạt tỷ lệ 93,06%. Trong đó, tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo của toàn huyện đạt 70%; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp chứng chỉ, đạt 33,38%.

* Về Văn hóa, Giáo dục và Y tế:

- Văn hoá: Các giá trị văn hóa truyền thống trong gia đình, cộng đồng được bảo tồn và phát huy. Văn hóa, văn nghệ quần chúng trong đồng bào dân tộc được duy trì, phát triển góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Hoạt động thể dục, thể thao có chuyển biến tích cực, tỷ lệ nhân dân tham gia luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên chiếm trên 34,7% dân số. Toàn huyện có 40.290/43.093 hộ gia đình văn hóa đạt 93,5% so với tổng số hộ đăng ký; có 120/124 ấp - khóm đạt chuẩn văn hóa đạt 96,7%; có 15/15 xã đạt chuẩn xã văn hóa nông thôn mới theo Thông tư số 17/2011/TT-BVHTTDL ngày 02/12/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và 02 thị trấn đạt chuẩn đô thị văn minh theo Quyết định 04/2022/QĐ-TTg ngày 18/02/2022 của Thủ tướng Chính phủ.

- Giáo dục: Quy mô trường, lớp được sắp xếp theo hướng tinh gọn. Huyện có 64 trường (17 trường Mẫu giáo, 27 trường Tiểu học, 14 trường Trung học cơ sở, 06 trường Trung học phổ thông (trường Dân tộc nội trú THCS,THPT, trường THPT Tập Sơn, trường THPT Trần Văn Long, trường THPT Hàm Giang, trường THPT Đại An, trường THPT Long Hiệp) và 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên – Hướng nghiệp dạy nghề), có 882 phòng học (kiên cố 827, bán kiên cố 55); 151 phòng phục vụ học tập (kiên cố 146, bán kiên cố 05); 55 phòng bộ môn (kiên cố 55). Hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học được quan tâm đầu tư tốt hơn, đánh giá về cơ sở vật chất trường học theo Thông tư số 13/2020/TT-BGDĐT ngày 26/5/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo: toàn huyện có 64/64 trường có cơ sở vật chất đạt mức tối thiểu trở lên, đạt 100% (trong đó có 5/64 trường có cơ sở vật chất đạt mức tối thiểu, chiếm tỷ lệ 7,81%; có 38/64 trường có cơ sở vật chất đạt mức độ 1, chiếm tỷ lệ 59,37%; có 21/64 trường có cơ sở vật chất đạt mức độ 2, chiếm tỷ lệ 32,82%). Các trường đều có hệ thống công nghệ thông tin, 100% các trường có kết nối Internet; 100% các trường sử dụng nước sạch hợp vệ sinh, khu nhà vệ sinh riêng cho học sinh, giáo viên đảm bảo theo quy định; các trường đều có khu sân chơi, bãi tập, có cây xanh, bóng mát đảm bảo môi trường xanh, sạch, đẹp, an toàn.

- Y tế: Hiện tại Trung tâm y tế huyện đạt chuẩn, toàn huyện có 6,5 Bác sĩ/ vạn dân, có 17,1 giường bệnh/vạn dân, công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được quan tâm thường xuyên, chất lượng khám, điều trị bệnh được cải thiện, cơ sở vật chất về y tế từ cấp huyện đến tuyến không ngừng được nâng lên. Hiện nay huyện có 100% số xã, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế. An toàn thực phẩm được quan tâm chỉ đạo, không có trường hợp ngộ độc thực phẩm tập thể xảy ra trên địa bàn. Chăm sóc nâng cao thể chất trẻ em được các cấp, các ngành quan tâm.

2. Thuận lợi:

  Cấp ủy, Chính quyền các cấp có sự quan tâm sâu sát, ban hành nhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn sát hợp với điều kiện, nguồn lực của địa phương; nhận thức trong nội bộ và ngoài quần chúng nhân dân về Chương trình mục tiêu quốc gia từng bước được nâng lên rõ rệt, có nhiều phong trào, mô hình, tấm gương cá nhân, tập thể gương mẫu tham gia xây dựng nông thôn mới được biểu dương, khen thưởng là động lực thúc đẩy Chương trình lan tỏa trong đời sống cư dân nông thôn; diện mạo nông thôn có sự thay đổi tích cực, đời sống vật chất, tinh thần từng bước được nâng lên đáng kể; an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, ổn định; các hạng mục công trình trọng điểm quốc gia đã và đang tiếp tục xây dựng như khu kinh tế Định An, Luồng cho tàu biển có trọng tải lớn vào sông Hậu, công trình Cầu Đại Ngãi…. là điều kiện quan trọng thu hút đầu tư và phát triển kinh tế xã hội của địa phương trong thời gian tới.

3. Khó khăn:

Huyện có xuất phát điểm kinh tế còn thấp, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, dưới tác động của biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, khó lường; nguồn lực hỗ trợ, đầu tư thực hiện Chương trình còn rất hạn chế, kết cấu hạ tầng giao thông thiếu đồng bộ; cơ sở vật chất y tế, văn hóa, giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần trong nhân dân, công tác giảm nghèo đạt, vượt chỉ tiêu kế hoạch qua từng năm, song chưa thật sự bền vững (năm 2016, huyện còn 1.999/38.908 hộ nghèo, chiếm 5,14%); nhà ở dân cư tuy được quan tâm đầu tư sửa chữa, xây dựng mới nhưng tỷ lệ nhà đạt chuẩn Bộ Xây dựng còn thấp (năm 2016, toàn huyện còn 4.377/37.506 nhà tạm, chiếm 11,67%); sản xuất nông nghiệp tại địa phương còn nhỏ lẻ, tập quán sản xuất của người dân chậm thay đổi, chưa tạo được sự chuyển biến mạnh về kinh tế hợp tác để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng khó khăn, năm 2016 huyện có 02 hợp tác xã lĩnh vực nông nghiệp- thủy sản; thu nhập người dân còn thấp, dưới 26,87 triệu đồng, ý thức về bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu của một bộ phận nhân dân còn thấp; tình hình an ninh nông thôn có lúc, có nơi diễn biến khó lường; xây dựng nông thôn mới có 02 xã đạt chuẩn nông thôn mới còn lại 13 xã có số tiêu chí bình quân/xã đạt thấp (năm 2016, đạt 10 -14 tiêu chí/xã).

II. CĂN CỨ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN

1. Văn bản của Trung ương (Kèm theo Phụ lục 1).

2. Văn bản của tỉnh Trà Vinh (Kèm theo Phụ lục 2).

3. Văn bản của huyện Trà Cú (Kèm theo Phụ lục 3).

III. KẾT QUẢ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN XÂY DỰNG HUYỆN NÔNG THÔN MỚI

1. Công tác chỉ đạo, điều hành

1.1. Giai đoạn I (2010-2015):

Tiếp thu quan điểm chỉ đạo của Trung ương, tỉnh, Ban Chỉ đạo huyện xác định rõ tầm quan trọng của việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Từ đó, Ban Chỉ đạo huyện đã kịp thời tham mưu Ban Thường vụ Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện ban hành 23 văn bản lãnh đạo, chỉ đạo và trên 40 văn bản khác để thực hiện Chương trình, trọng tâm là Nghị quyết số 06-NQ/HU, ngày 28/4/2011 của Ban Thường vụ Huyện ủy “về công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn với xây dựng nông thôn mới”; Quyết định số 197/QĐ-UBND ngày 09/02/2012 của Ủy ban nhân dân huyện ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Trà Cú cùng cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”; Nghị quyết số 04/2014/NQ-HĐND, ngày 28/02/2014 của Hội đồng nhân dân huyện về xây dựng nông thôn mới huyện Trà Cú năm 2014”; Kế hoạch số 03/KH-UBND, ngày 09/02/2012 của Ủy ban nhân dân huyện về tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Trà Cú cùng cả nước chung tay xây dựng nông thôn mới”; Kế hoạch số 130-KH/HU, ngày 13/11/2014 về “lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện Trà Cú đến năm 2020”; Kế hoạch số 131-KH/HU, ngày 13/11/2014 thực hiện Kết luận số 97-KL/TW của Bộ Chính trị “về một số chủ trương, giải pháp tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”. Định kỳ đưa nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới vào nghị quyết, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện và kế hoạch thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của từng ngành.

1.2. Giai đoạn II: Giai đoạn 2016 - 2020

Trên cơ sở triển khai thực hiện các văn bản của Trung ương, tỉnh, huyện giai đoạn 2010 - 2015, Ban Chỉ đạo huyện kịp thời tham mưu Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện tiếp tục ban hành 18 văn bản lãnh đạo, chỉ đạo và trên 60 văn bản khác để thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2 (2016 – 2020), nhằm tiếp tục phát huy ưu điểm và khắc phục những khó khăn, hạn chế trong giai đoạn trước để thực hiện hiệu quả trong giai đoạn 2, cụ thể như: Kết luận số 01-KL/HU, ngày 04/4/2016 của Ban Thường vụ Huyện ủy về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06-NQ/HU của Huyện ủy “về công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn với xây dựng nông thôn mới”; Kế hoạch số 39-KH/HU, ngày 16/8/2016 của Ban Thường vụ Huyện ủy “về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện Trà Cú giai đoạn 2016 - 2020”; Kế hoạch số 56/KH-UBND, ngày 25/9/2017 của Ủy ban nhân dân huyện “về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện Trà Cú giai đoạn 2016 - 2020”; Quyết định số 94/QĐ-UBND, ngày 22/01/2018 của Ủy ban nhân dân huyện “về việc phân công các ngành phụ trách hướng dẫn, hỗ trợ thực hiện 19 tiêu chí nông thôn mới trên địa bàn huyện” và các văn bản uốn nắn việc triển khai thực hiện Chương trình trên địa bàn các xã Ngoài ra, trong quá trình thực hiện, Ban Chỉ đạo huyện kịp thời ban hành 15 văn bản cụ thể hóa các văn bản của Trung ương, Tỉnh ủy, Huyện ủy, trọng tâm là các kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới theo từng giai đoạn và từng năm; các báo cáo định kỳ và đột xuất; các công văn uốn nắn, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Đồng thời, mạnh dạn điển hình những cá nhân, tập thể thực hiện tốt Chương trình và chỉ ra những cá nhân, tập thể, địa phương, đơn vị thực hiện chưa tốt của giai đoạn 2010 – 2015, nhằm rút kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện giai đoạn 2016 - 2020.

1.3. Xây dựng đồng bộ hệ thống bộ máy chỉ đạo thực hiện Chương trình

Kịp thời tham mưu Huyện ủy ban hành quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện (theo Quyết định số 430-QĐ/HU ngày 07/4/2011 của Ban Thường vụ Huyện ủy) và quyết định thành lập Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia và phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa huyện Trà Cú giai đoạn 2016 - 2020 (theo Quyết định số 1440/QĐ/HU, ngày 22/02/2017 của Ban Thường vụ Huyện ủy) gồm 33 thành viên do đồng chí Bí thư Huyện ủy làm Trưởng ban, đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện làm Phó Trưởng ban Thường trực; kiện toàn Văn phòng Điều phối Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện với tổng số 13 thành viên, do đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện làm Chánh Văn phòng (02 cán bộ chuyên trách theo Quyết định 1996 của Thủ tướng Chính phủ), Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo gồm 13 thành viên do đồng chí Trưởng Phòng Nông nghiệp - Phát triển nông thôn huyện làm Tổ trưởng. Đồng thời, chỉ đạo các xã thành lập Ban Chỉ đạo xã do đồng chí Bí thư Đảng ủy làm Trưởng ban, Ban Quản lý nông thôn mới do Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã làm Trưởng ban (01 đồng chí chuyên trách nông thôn mới cấp xã) và Ban Phát triển ở các ấp do đồng chí Bí thư chi bộ làm Trưởng ban. Trong quá trình hoạt động, Ban Chỉ đạo huyện kịp thời ban hành quy chế làm việc, phân công thành viên phụ trách từng địa bàn, phần việc gắn với thường xuyên tham mưu Ban Thường vụ Huyện ủy ban hành các quyết định củng cố, kiện toàn, thay đổi bổ sung thành viên Ban Chỉ đạo, Văn phòng Điều phối và Tổ giúp việc cho Ban Chỉ đạo, nhằm đảm bảo thực hiện tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn.

1.4. Giai đoạn III: Giai đoạn 2021 – 2025

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2020-2025 xác định nhiệm vụ hoàn thành Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ chính trị trọng tâm quan trọng, quyết định việc hoàn thành chỉ tiêu Nghị quyết Đảng bộ các cấp. Do đó, ngày từ đầu nhiệm kỳ 2020-2025, Huyện ủy Trà Cú đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/HU ngày 20/10/2021 về việc lãnh đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025. Để triển khai thực hiện nghị quyết của Huyện ủy đạt hiệu quả, UBND huyện đã cụ thể hóa bằng Kế hoạch số 17/KH-UBND ngày 02/3/2023 của UBND huyện về việc xây dựng huyện Trà Cú đạt chuẩn nông thôn mới năm 2023, ngoài ra UBND huyện đã ban hành một số văn bản liên quan đến công tác chỉ đạo điều hành như: Quyết định phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị phụ trách từng tiêu chí; Công văn chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được phân công tập trung khẩn trương, quyết liệt tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ, phần việc được giao phấn đu hoàn thành các chỉ tiêu xây dựng xã nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao và xây dựng huyện đạt chuẩn nông thôn mới trong năm 2023.

Để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025, Huyện ủy ban hành Quyết định 926-QĐ/HU ngày 21/2/2022 kết thúc Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia và Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa huyện, theo đó UBND huyện ban hành Quyết định số 2683/QĐ-UBND ngày 16/8/2022 về việc thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia và Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa huyện Trà Cú giai đoạn 2021-2025, gồm 28 thành viên, đồng chí Chủ tịch UBND huyện là Trưởng Ban Chỉ đạo. Đồng thời, chỉ đạo 15/15 xã tổ chức thành lập Ban quản lý cấp xã với 364 thành viên và kiện toàn Ban phát triển 115 ấp với 919 thành viên.  

Thực hiện Quyết định số 1920/QĐ-TTg ngày 05/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy và biên chế của Văn phòng điều phối nông thôn mới các cấp. Đến nay Ủy ban nhân dân huyện đã thành lập và kịp thời cũng cố kiện toàn Văn phòng điều phối nông thôn mới huyện (tại Quyết định số 4415/QĐ-UBND ngày 30/12/2022 của UBND huyện và Quyết định số 321/QĐ-UBND ngày 31/01/2023 của UBND huyện) gồm 22 thành viên, đồng chí Phó Chủ tịch UBND huyện là Chánh Văn phòng và đồng chí Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm Phó Chánh Văn phòng, bố trí 02 cán bộ chuyên trách; ở mỗi xã có 01 cán bộ chuyên trách về nông thôn mới đúng theo quy định.

  Nhìn chung, về tổ chức, bộ máy quản lý, điều hành việc thực hiện nhiệm vụ các Chương trình mục tiêu quốc gia và Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được hoàn thiện từ huyện đến xã. Ban Chỉ đạo các cấp đã kịp thời ban hành các văn bản như: Nghị quyết, chương trình, kế hoạch chuyên đề giai đoạn, hàng năm; có ban hành quy chế hoạt động, phân công nhiệm vụ thành viên cụ thể. Quá trình tổ chức thực hiện, cấp ủy, người đứng đầu tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện với lộ trình, giải pháp phù hợp về xây dựng nông thôn mới; phối hợp tổ chức hội nghị quán triệt các văn bản của Trung ương, của tỉnh; triển khai kế hoạch của UBND, Ban chỉ đạo huyện đến cán bộ, đảng viên, hội viên, đoàn viên và Nhân dân trong huyện cùng chung tay tham gia thực hiện; thường xuyên tổ chức kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn rà soát, đánh giá hiện trạng theo Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới và đề ra giải pháp sát hợp từng tiêu chí, từng địa phương và định kỳ tổ chức các cuộc họp giao ban tuần, tháng, quý, tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết hàng năm, giai đoạn, để đánh giá rút kinh nghiệm, kịp thời chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Chương trình.

2. Công tác truyền thông, đào tạo, tập huấn

2.1. Công tác truyền thông

  Quán triệt nội dung Nghị quyết chuyên đề của Huyện ủy về lãnh đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới qua 3 giai đoạn từ năm 2011 đến nay, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể huyện, xã đã tập trung đẩy mạnh công tác vận động, tuyên truyền các chủ trương của Trung ươngđịa phương trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đến với cán bộ, đảng viên, hội viên, đoàn viên và nhân dân. Công tác tuyên truyền được triển khai sâu rộng và bằng nhiều hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú.  Kết quả, tổ chức tuyên truyền được 49.705 cuộc, có trên 1.782.308 lượt người tham dự; cấp phát hơn 23.400 tờ bướm, 9.216 sổ tay hướng dẫn, 741 pano tuyên truyền. Ngoài ra, Trung tâm Văn hóa - Thông tin và Thể thao huyện đã biên tập phát thanh trong các Chương trình thời sự hàng ngày gắn với tiết mục: Thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia và Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” với 4.210 tin, 1.011 bài viết, văn bản, thời lượng trung bình 08 phút/bản tin; thực hiện 411 lượt tuyên tuyền bằng xe chuyên dùng đến các xã, thị trấn, ước có khoảng trên 1.400.000 lượt người nghe. Trang Thông tin điện tử của huyện, Trang Thông tin điện tử cấp xã đăng tải hơn 900 tin, bài, văn bản với nội dung thiết thực, đa dạng để người dân nắm biết và hưởng ứng tham gia xây dựng nông thôn mới.

Mặt trận Tổ quốc huyện phối hợp với các tổ chức thành viên phát động các tầng lớp Nhân dân ra sức thi đua thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phong trào thi đua “Dân vận khéo” gắn với thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, vận động các hộ gia đình hội viên, đoàn viên gương mẫu đi đầu trong xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, chỉnh trang cảnh quan môi trường, làm hàng rào cây xanh, đường hoa, đèn đường nông thôn, phân loại và xử lý rác thải tại nguồn vì môi trường sáng – xanh – sạch đẹp; vận động đóng góp “Quỹ an sinh xã hội”, “Quỹ vì người nghèo”, cất nhà đại đoàn kết, nhà tình thương, làm cầu, đường giao thông đặc biệt là tích cực chung tay cùng cộng đồng vượt qua đại dịch Covid-19. Kết quả đã vận động hơn 125 tỷ đồng, hiến trên 152.000 m2 đất, nhiều hoa màu, cây trái; xây dựng 212 căn nhà đại đoàn kết, xây dựng 123 tuyến đường nông thôn, với chiều dài 61km, 11 cây cầu giao thông nông thôn, trên 30 tấn gạo và nhiều nhu yếu phẩm khác.

Một số mô hình tiêu biểu của Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể được ghi nhận:

- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp tổ chức xây dựng được 24 mô hình, trong đó mô hình tiêu biểu như: Mô hình: “khám chữa bệnh cho hộ nghèo, cận nghèo, hộ khó khăn, già neo đơn không có điều kiện khám chữa bệnh” ở chùa Phnô Om Pung (chùa Long Trường) xã Tân Hiệp, hàng tuần tổ chức khám và cấp thuốc miễn phí cho hơn 150 người, với chi phí 4.500.000 đồng/tuần; Mô hình “Tuyến đèn đường giao thông nông thôn” ấp Chợ Dưới, xã Phước Hưng; Mô hình “vận động Nhân dân làm hàng rào cây xanh” dài 2.500m, ấp Ông Rùm, ấp Bến Thế xã Tân Sơn; Mô hình “nâng cao chất lượng xã Nông thôn mới nâng cao”, Xã Đại An; Mô hình cơ sở tôn giáo tham gia bảo vệ môi trường ở xã Kim Sơn.

  - Hội Nông dân huyện vận động nông dân hiến đất, góp tiền, ngày công lao động tham gia xây dựng và duy tu, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng nông thôn: Vận động cán bộ, hội viên nông dân duy trì tốt hoạt động Câu Lạc bộ “Chung sức xây dựng nông thôn mới gắn với tham gia ngày Chủ nhật xanh” theo tinh thần Chỉ thị 27 của Tỉnh ủy đã tham gia dọn dẹp các tuyền đường dài 87.000 m; tham gia trồng và chăm sóc,…tuyến đường hoa do huyện Hội, cơ sở Hội đảm nhận; vệ sinh cảnh quan môi trường, phát hoang bụi rậm và trồng mới cây xanh các loại, thu gom rác thải…được 177 cuộc, có 2.581 lượt hội viên, nông dân tham gia. Đăng ký mô hình tham gia bảo vệ môi trường gồm 21 mô hình, có 68 hội viên tham gia. Hội vận động cán bộ, hội viên tích cực chủ động tham gia thực hiện tốt các tiêu chí do Hội đảm nhận (9, 13, 17, 18, 19). Nổi bật có phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi với 75.792 hội viên nông dân sản xuất kinh doanh giỏi các cấp (cấp trung ương 98; cấp tỉnh 2.190, cấp huyện 9.789, cấp cơ sở 63.715) đã phát huy được vai trò chủ thể của Nông dân trong tuyên truyền chủ trương, chính sách về kinh tế tập thể, giới thiệu hợp tác xã điển hình tiên tiến, mô hình mới cho nông dân tham quan học tập và nhân rộng. Hỗ trợ cho 19.006 hội viên vay vốn trên 427 tỷ đồng từ Quỹ hỗ trợ nông dân và vốn Ngân hàng Chính sách xã hội để tổ chức sản xuất, cải thiện thu nhập góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo và làm giàu chính đáng; thực hiện 17 tuyến đường hoa do Hội tự quản với 15.500 mét. Đẩy mạnh các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn” hậu phương quân đội, giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ là hội viên, thăm hỏi, tặng 165 phần quà trị giá 825 triệu đồng. Hoàn chỉnh hồ sơ thành lập và tổ chức ra mắt 30 câu lạc bộ “Nông dân 3 tốt” có 322 thành viên là hội viên nông dân tham gia.

- Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện đã chủ động, tích cực triển khai thực hiện Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” gắn với tham gia xây dựng nông thôn mới bằng các phong trào, các hoạt động thiết thực, cụ thể: có 19.993/23.550 hộ hội viên đạt 8 tiêu chí, chiếm tỷ lệ 84,9%. Vận động thành lập 33 mô hình phân loại rác thải tại hộ gia đình có 560 thành viên; 12 ngôi nhà thu gom rác thải nhựa; 124 câu lạc bộ xây dựng gia đình 5 không 3 sạch 2.309 thành viên; 03 CLB “Hành động vì môi trường xanh” 96 thành viên; 39 CLB hạn chế sử dụng túi nilong và sản phẩm nhựa dùng 01 lần có 792 thành viên; 12 CLB biến rác thải thành tiền có 244 thành viên; 04 CLB phụ nữ khmer chung tay bảo vệ môi trường có 120 thành viên; 31 tổ tiết kiệm mua bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tự nguyện có 405 thành viên tham gia. Thực hiện tốt Chỉ thị số 27-CT/TU, ngày 19/10/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; các cơ sở Hội phối hợp dọn dẹp, phát hoang bụi rậm, vệ sinh cảnh quan môi trường. Tổ chức phát động ươm cây, ra quân trồng cây xanh, trồng hoa, đến nay đã có 36 tuyến đường hoa, với chiều dài 42km. Phối hợp với Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh tổ chức lớp tập huấn hướng dẫn phân loại, xử lý rác thải tại hộ gia đình cho hội viên; đồng thời, phối hợp xây dựng Video hướng dẫn phân loại rác tại tại hộ gia đình. Phối hợp với Ngân hàng chính sách xã Hội đầu tư vốn cho 9.042 hội viên phụ nữ vay vốn số tiền 300 tỷ 702 triệu đồng (trong đó vốn nước sạch vệ sinh môi trường 3.229 hộ số tiền 35 tỷ 994 triệu đồng).

- Hội Cựu chiến binh tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn: Vận động 02 hội viên hiến đất được 300m để làm trụ sở ấp và thủy lợi nội đồng, phát quang và vệ sinh môi trường 18.000m lộ giới, trồng 1.500 cây bông hoàng yến dọc đường nông thôn có 1.626 lượt hội viên và 177 Cựu quân nhân và 1.673 nhân dân tham gia. Toàn huyện đã xây dựng và nâng chất lượng hoạt động của 124 Câu lạc bộ môi trường CCB, đạt 100% so với tổng số chi hội, với 2.752 thành viên (hội viên: 1.351, CQN: 136, Ban ngành đoàn thể ấp, khóm: 768, người dân: 497). Các CLB thường xuyên tuyên truyền vận động nhân dân bảo vệ môi trường và ra quân dọn dẹp cảnh quang môi trường được: 105,8km lộ giới, thu gom 900 kg rác các loại, chăm sóc cây hoàng yến, điệp, dừa cạn trên tuyến đường hoa do Hội phụ trách có 1.917 lượt hội viên, 618 lượt Cựu quân nhân và 1.809 người dân tham gia.

- Đoàn Thanh niên các cấp tích cực triển khai các hoạt động chung tay xây dựng nông thôn mới thông qua việc phát huy vai trò xung kích tình nguyện của đoàn viên, thanh niên trong tuyên truyền và tham gia thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh gắn với các công trình, phần việc thanh niên: Tuyên truyền về tiêu chí xây dựng Nông thôn mới được 4.918 cuộc, có 147.920 lượt ĐVTN và người dân tham dự, phát 35.720 tờ rơi; ra quân phát dọn cảnh quan hai bên đường, phát hoang bụi rậm được 3.240km, vận động giúp 3.850 hộ dân làm hàng rào với chiều dài 143 km và làm 12.296 cột cờ đúng quy cách, trị giá 1,9 tỷ đồng; gắn bóng đèn thắp sáng 75,3km đường quê trị giá 1,4 tỷ đồng; Xây mới 33 cầu bê tông giao thông nông thôn, trị giá 4,2 tỷ đồng; làm mới 6,6 km đường GTNT, sửa chữa, nâng cấp đường giao thông nông thôn được 306,3 km, trị giá 3.969 triệu đồng; xây dựng mới và bàn giao 213 căn nhà nhân ái, tình bạn, khăn quàng đỏ... cho đoàn, hội viên thanh niên có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở, trị giá 10.472 triệu đồng; sửa chữa 11 căn nhà cho đoàn viên nghèo và người già neo đơn, tổng trị giá 79 triệu đồng; nạo vét kênh thủy lợi nội đồng với chiều dài 2,5 km, kinh phí 68,1 triệu đồng; thực hiện công trình nước sạch cho 13 hộ nghèo, cận nghèo, trị giá 81 triệu đồng; vận động trên 5.369 hộ dân đăng ký xây dựng hố xí hợp vệ sinh, lắp đặt mới 251 hố xí với tổng trị giá công trình 936 triệu đồng, lắp đặt 02 trạm cấp nước ngọt với số tiền trên 32 triệu đồng; bên cạnh đó các xã, thị trấn phát tờ rơi tuyên truyền về sử dụng điện và tiết kiệm điện được 15.250 tờ rơi cho 6.250 hộ dân; Các xã, thị trấn đăng ký đảm nhận 17 tuyến đường hoa thanh niên với chiều dài 34km; Tổ chức trồng và bảo dưỡng 187.575 cây xanh, vận động người dân không vứt rác bừa bãi không làm ô nhiễm môi trường, không vứt rác xuống các dòng sông tránh làm ô nhiễm dòng nước được 1.127 cuộc có 11.250 lượt ĐVTN tham gia. Vận động kinh phí mua bảo hiểm y tế cho người dân, học sinh được 41 thẻ, trị giá 11,2 triệu đồng.

- Liên đoàn Lao động huyện đã triển khai, tuyên truyền đến đoàn viên, công nhân viên chức lao động tham gia thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động do Công đoàn cấp trên chỉ đạo, như xây dựng và bàn giao 15 nhà “Mái ấm Công đoàn”, tổ chức 1.107 cuộc ra quân chăm sóc các tuyến đường hoa, vệ sinh cảnh quan môi trường nông thôn với sự tham gia của 32.735 lượt đoàn viên; vận động 70,66 triệu để trồng hoa và chăm sóc các tuyến đường hoa, tập trung vận động đoàn viên Công Đoàn gương mẫu đi đầu trong xây dựng gia đình văn hóa, nông thôn mới.

Nhìn chung, thời gian qua nhờ làm tốt công tác đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể kết hợp với tăng cường công tác truyền thông trong xây dựng nông thôn mới mà nhận thức của từng cán bộ, đảng viên, hội viên đoàn thể đã được nâng lên, tích cực tham gia làm nòng cốt trong các phong trào ở địa phương, đã làm chuyển biến mạnh mẽ diện mạo nông thôn, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện đáng kể so với những năm đầu xây dựng nông thôn mới.

2.2. Công tác đào tạo, tập huấn

Trên cơ sở Bộ tiêu chí quốc gia, Bộ tiêu chí nông thôn mới của tỉnh, các văn bản hướng dẫn thực hiện của Bộ ngành Trung ương, địa phương, huyện đã chỉ đạo tổ chức được 4.112 cuộc tập huấn để phổ biến, hướng dẫn thực hiện, có 185.054  lượt người tham dự. Đối tượng là thành viên Ban chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa huyện, xã, Ban quản lý cấp xã và Ban phát triển ấp. Nhìn chung, qua các cuộc tập huấn, tham quan, nhận thức của cán bộ, đảng viên, hội viên và người dân về nông thôn mới đã được nâng lên, có nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả được phổ biến, nhân rộng trong cộng đồng như: phong trào thi đua sản xuất kinh doanh giỏi (do Hội Nông dân phát động), ngày thứ Bảy tình nguyện, phong trào Thắp sáng đường quê (do Đoàn Thanh niên phát động).

3. Kết quả huy động nguồn lực xây dựng huyện nông thôn mới

Tập trung chỉ đạo huy động tốt các nguồn lực đầu tư xây dựng nông thôn mới, qua đó đã huy động được 4.396,031 tỷ đồng phục vụ nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Cụ thể như:

* Giai đoạn 2010 - 2015: Huy động được 1.254,913 t đồng.

Trong đó:

+ Ngân sách Trung ương:              319,119 tỷ đồng, chiếm 25,32%

+ Ngân sách địa phương:                160,131 tỷ đồng, chiếm 12,84%

- Vốn lồng ghép:                             121,172 tỷ đồng, chiếm 9,65%

- Vốn dân đóng góp:                         92,250 tỷ đồng, chiếm 7,34%

- Vốn doanh nghiệp, tín dụng:         562,241 tỷ đồng, chiếm 44,80%

* Giai đoạn 2016 - 2019: Huy động được 1.968,303 tỷ đồng (tăng 714,1 tỷ đồng so giai đoạn 2011-2015)

Trong đó:

- Kinh phí trung ương:                711,663 tỷ đồng (tăng 392,663 tỷ đồng)

- Kinh phí địa phương:                  83,581 tỷ đồng

- Vốn lồng ghép:                         434,888 tỷ đồng (tăng 313,716 tỷ đồng

- Vốn tín dụng:                            686,026 tỷ đồng(tăng 132,785 tỷ đồng)

- Vốn dân đóng góp:                      52,145 tỷ đồng

* Giai đoạn 2020 - 2023: Huy động được 1.172.815 tỷ đồng.

Trong đó:

- Kinh phí trung ương:               115,045 tỷ đồng

- Kinh phí địa phương:                139,884 tỷ đồng

- Vốn lồng ghép:                        41,265 tỷ đồng

- Vốn tín dụng:                          844,078 tỷ đồng

- Vốn dân đóng góp:             32,543 tỷ đồng

IV. KẾT QUẢ THỰC HIỆN XÂY DỰNG HUYỆN NÔNG THÔN MỚI

1. Số xã, thị trấn đạt chuẩn theo quy định

1.1. Số xã đạt chuẩn nông thôn mới theo quy định

  - Tổng số xã trên địa bàn huyện: 15

  - Số xã đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới: 15

  - Tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới: 100%

  Trong đó có 12/15 xã đạt chuẩn nông thôn mới được công nhận trong giai đoạn 2016-2020 (theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ), có 03 xã đạt chuẩn nông thôn mới được công nhận trong giai theo giai đoạn 2021-2025 (theo Quyết định số 18/2022/QĐ-TTg ngày 02/8/2022 của Thủ tướng Chính phủ). Để đảm bảo đạt chuẩn Bộ tiêu chí xã nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND tỉnh, UBND huyện đã chỉ đạo UBND các xã tổ chức rà soát, đánh giá và triển khai thực hiện nâng cao chất lượng các tiêu chí. Kết quả đến nay có 15/15 xã đều đạt chuẩn các tiêu chí theo quy định của Bộ tiêu chí xã nông thôn mới giai đoạn 2021-2025.

1.2. Số xã đạt chuẩn xã nông thôn mới nâng cao theo quy định

  - Số xã đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao: 02 xã (xã Đại An, xã Ngọc Biên). Tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao: 13,33%.

  Trong đó có 02(Đại An và Ngọc Biên) được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2016-2020. Ủy ban nhân dân huyện đã chỉ đạo Ủy ban nhân dân 02 xã thực hiện rà soát, đánh giá các tiêu chí theo Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2021-2025 quy định tại Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND tỉnh. Kết quả đến nay 02 xã đều đã đạt chuẩn tiêu chí theo quy định tại Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND tỉnh.

1.3. Số thị trấn đạt chuẩn theo quy định

  - Tổng số thị trấn trên địa bàn huyện: 02 thị trấn

  - Số thị trấn đã được công nhận đạt chuẩn đô thị văn minh: 02 thị trấn (thị trấn Trà Cú và thị trấn Định An).

  - Tỷ lệ số thị trấn đạt chuẩn đô thị văn minh: 100%

  Thị trấn Trà Cú được công nhận đạt chuẩn đô thị  văn minh (tại Quyết định số 4912/QĐ-UBND ngày 17/12/2019 của UBND huyện Trà Cú, theo Thông tư số 02/2013/TT-BVHTTDL ngày 24/01/2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, thị trấn Định An đạt 9/9 tiêu chí, đã tổ chức xong việc lấy ý kiến sự hài lòng của người dân trong việc xây dựng thị trấn đạt chuẩn đô thị văn minh, kết quả đạt 99,56% trong năm 2023.

2. Kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới ở các xã trên địa bàn huyện

2.1. Công tác lập quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch

  Quy hoạch được xác định là nội dung cần được triển khai trước một bước để định hướng trong xây dựng nông thôn mới và đầu tư phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Giai đoạn đầu triển khai chương trình chưa có xã nào thực hiện đạt tiêu chí quy hoạch trên địa bàn, xác định rõ tầm quan trọng công tác lập quy hoạch 15/15 xã tiến hành hợp đồng các đơn vị tư vấn triển khai thu thập số liệu, khảo sát đánh giá thực trạng kinh tế-xã hội của địa phương. Công tác lập quy hoạch được thực hiện bài bản đảm bảo tính xác thực, phù hợp với điều kiện và tiềm năng lợi thế của từng địa phương. Đồ án quy hoạch xây dựng NTM của các xã được các phòng chuyên môn của huyện tham gia chỉnh sửa, thẩm định và trình Chủ tịch UBND huyện phê duyệt. Đến tháng 6/2021 đã có 15/15 xã được Chủ tịch UBND huyện ra Quyết định phê duyệt Đồ án Quy hoạch chung về xây dựng nông thôn mới (03 đồ án lập mới và 12 đồ án điều chỉnh) và quy chế quản lý quy hoạch. Ủy ban nhân dân các xã có tổ chức hội nghị công khai quy hoạch rộng rãi để nhân dân biết và thực hiện theo quy định.

  *Đánh giá: 15/15 xã đạt tiêu chí số 1 về Quy hoạch theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND tỉnh Trà Vinh ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2021-2025.

2.2. Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu

2.2.1 Về giao thông:

          Trước khi xây dựng nông thôn mới mạng lưới đường giao thông nông thôn trên địa bàn huyện phần lớn chưa hoàn chỉnh về tải trọng, quy mô, kết cấu, cấp hạng kỹ thuật, vẫn còn một số tuyến đường đất, lầy lội vào mùa mưa, gây khó khăn cho phương tiện và người dân lưu thông. Đặc biệt cầu và đường chưa đồng bộ về tải trọng và khổ cầu, nhiều cầu tải trọng thấp hoặc cầu gỗ, nhiều công trình cầu và đường giao thông sau nhiều năm đưa vào khai thác đã xuống cấp, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nhất là một số tuyến đường xã, đường trục ấp, đường liên ấp, đường ngõ xóm chưa hoàn chỉnh, khi đó huyện có 325,54/882,07 km đường giao thông nông thôn, các tuyến đường được nhựa hóa, bê tông hóa đạt khoảng 36,9%, mặt đường một số tuyến bị hư hỏng cần phải được nâng cấp, cải tạo.

          Qua 08 năm (2015-2023) triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đã phát huy sức mạnh tổng hợp các nguồn lực đầu tư bằng nhiều nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước và sự đóng góp của nhân dân. Đến nay, huyện đã đầu tư xây dựng cơ bản hoàn thiện hệ thống giao thông nông thôn trên địa bàn các xã (láng nhựa, bê tông hóa) tổng chiều dài 778,16/882,07 km, cụ thể:

          - Đường : Đã đầu tư xây dựng nhựa hóa và nâng cấp, mở rộng, tổng chiều dài 147,32km, đạt 100% quy hoạch, trong đó: Quốc lộ 53 đường tránh Quốc lộ 53 dài 24,5 km, Quốc lộ 54 tuyến dài 22 km, Đường tỉnh 911 dài 7,8km, Đường tỉnh 914 dài 1,7km, Đường tỉnh 915 dài 21km, Đường huyện 12 dài 22,71km, Đường huyện 17 dài 0,8km, Đường huyện 18 dài 2,81km, Đường huyện 27 dài 7,6km, Đường huyện 28 dài 11,1km, Đường huyện 36 dài 15,6km, Đường vào Trung tâm xã Hàm Giang dài 4,15km, Đường vào Trung tâm xã Định An dài 5,56km. Mỗi xã có tối thiểu 01 tuyến đường xã đạt quy mô nền đường rộng tối thiểu 6,5m, mặt đường rộng tối thiểu 5,5m, đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm.

          - Đường ấp và đường liên ấp: Đã đầu tư xây dựng nhựa hóa, bê tông hóa được 297,51/304,95km, đạt 97,56% quy hoạch; các tuyến đường ấp và đường liên ấp trong huyện đạt quy mô nền đường rộng tối thiểu 4,5m, mặt đường rộng từ 3 – 3,5m trở lên, đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm.

          - Đường ngõ, xóm: Đã đầu tư xây dựng bê tông, cấp phối đá và các vật liệu khác không lầy lội vào mùa mưa được 151,26/181,69km, đạt 83,25%, các tuyến đường ngõ xóm trong huyện đạt quy mô nền đường rộng tối thiểu 2,5-4m, mặt đường rộng tối thiểu 1,5 – 2,5m, đường sạch và không lầy lội vào mùa mưa, đảm bảo cho nhân dân đi lại thuận tiện quanh năm.

          - Đường trục chính nội đồng: Đã đầu tư xây dựng nhựa hóa, bê tông hóa, cứng hóa 192,07/248,11km đạt 77,41%, các tuyến đường trục chính nội đồng đảm bảo cho xe cơ giới vận chuyển hàng hóa thuận tiện quanh năm. 

          Ngoài ra, đã đầu tư xây dựng mới, nâng cấp và sửa chữa 115 cây cầu giao thông nông thôn bằng bê tông cốt thép, kết cấu cơ bản đồng bộ về tải trọng và khổ cầu so với các tuyến đường giao thông nông thôn, đảm bảo cho nhân dân đi lại, vận chuyển hàng hóa thuận tiện quanh năm.

Đánh giá: 15/15 xã đạt tiêu chí số 1 về Giao thông theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND tỉnh Trà Vinh ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2021-2025.

2.2.2 Về thủy lợi và phòng, chống thiên tai:

  Xác định thủy lợi là một trong những tiêu chí quan trọng để đảm bảo phát triển sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu lại ngành nông nghiệp và mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản trong điều kiện thích ứng với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn. Ủy ban nhân dân huyện luôn quan tâm chỉ đạo, đầu tư phát triển hệ thống kênh, mương, cống, bọng; hướng dẫn, đôn đốc các xã, thị trấn thực hiện các nội dung của tiêu chí thủy lợi theo kế hoạch.

-Trong hệ thống thủy lợi Nam Măng Thít có 6 cống đầu mối thuộc hệ thống đê Nam Mang Thít để ngăn mặn, trữ nước ngọt, phòng, chống lũ, triều cường, phục vụ sản xuất và dân sinh (khẩu độ từ 5m đến 9m cửa); có 10 cống điều tiết trên kênh cấp II cặp kênh 3/2 và 01 trạm bơm điện trên kênh 3/2 có lưu lượng 20m3/s để phục vụ sản xuất nông nghiệp và tiếp nước cho nhà máy nhiệt điện Duyên Hải; 01 trạm bơm điện ấp Đôn Chụm A, xã Tân Sơn phục vụ sản xuất nông nghiệp cho 02 xã Tân Sơn và Tập Sơn diện tích khoảng 200 ha; có 10 tuyến kênh cấp I, dài 64,695 km; có 127 kênh cấp II, dài 271,773 km; có 541 kênh cấp 3, dài 432,470 km và trên 145 bọng nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp, thủy sản.

- Hệ thống thủy lợi ngoài hệ thống Nam Măng Thít được xây dựng hệ thống đê điều liên xã phù hợp với quy hoạch đê điều được phê duyệt bao gồm: có 02 tuyến đê biển  dài 18 km (đê Nguyễn Văn Pho - Tổng Long: chiều dài 8km và đê Tổng Long – Bắc Trang: chiều dài 10 km), có 13 tuyến đê sông, chiều dài 59,73 km; có 58 tuyến bờ bao cục bộ nội đồng, chiều dài 79,74 km và có 01 tuyến kè kết hợp với cảng cá Định An chiều dài 2,5 km để bảo vệ bờ sông và dân sinh của thị trấn Định An và Đại An đạt yêu cầu.

- Hệ thống thủy lợi trong huyện đã thực hiện khép kín, chủ động phục vụ tưới, tiêu cho diện tích nông nghiệp 24.906,09 ha/26.126,35 ha diện tích nông nghiệp của toàn huyện đạt 95,33%.

  Ủy ban nhân dân các xã trên địa bàn huyện đều đã thành lập Ban quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi do xã quản lý. Ban quản lý có xây dựng quy chế hoạt động, phương án bảo vệ công trình thủy lợi do xã quản lý, có kế hoạch, có bản đồ hiện trạng các công trình thủy lợi do xã quản lý và báo cáo hoạt động theo kế hoạch hàng năm quy định. Ban quản lý khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi do xã quản lý đi vào hoạt động đã đảm bảo kênh, mương, cống, bờ bao... được kiểm tra thường xuyên, kịp thời phát hiện và đề xuất xử lý các trường hợp vi phạm thuộc phạm vi bảo vệ công trình theo quy định, duy trì thông thoáng không gây ách tắc dòng chảy trên kênh, mương.

Chỉ đạo 15/15 xã thường xuyên kiện toàn Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn theo quy định tại Nghị định số 66/2021/NĐ-CP ngày 06/7/2021 của Chính phủ về việc Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều. Thường xuyên kiểm tra các công trình sung yếu, đề nghị nâng cấp, sửa chữa, ứng phó với tình trạng hạn mặn, triều cường, hàng năm kết hợp với Văn phòng BCH phòng chống thiên tai cấp Tỉnh tổ chức các lớp tập huấn nâng cao nhận thức cộng đồng về công tác phòng, chống thiên tai. Việc xây dựng các kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tại địa phương tuân thủ theo quy hoạch quy định. Qua kiểm tra theo dõi chưa phát hiện trường hợp vi phạm pháp luật về bảo vệ công trình phòng, chống thiên tai theo quy định; 15/15 xã đều được đánh giá đảm bảo yêu cầu chủ động về phòng chống thiên tai theo phương châm 4 tại chỗ (chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ; phương tiện, vật tư tại chỗ và hậu cần tại chỗ) và chủ động phòng tránh, ứng phó kịp thời, khắc phục khẩn trương và có hiệu quả.

Đánh giá: 15/15 xã đạt tiêu chí số 03 về Thủy lợi theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND tỉnh Trà Vinh ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2021-2025.

2.2.3 Về điện:

  Trước khi triển khai xây dựng nông thôn mới năm 2016 trên địa bàn huyện Trà Cú295,08 km đường dây trung thế; 582,27 km đường dây hạ thế, 535 trạm biến áp với dung lượng 34.589,5KVA toàn huyện có 37.887 hộ sử dụng điện, đạt 98,5% tổng số hộ toàn huyện. Lưới điện trung - hạ thế chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, chủ yếu là Trạm biến áp nhỏ 01 pha. Tuyến 22KVA chủ yếu chạy dọc theo tuyến chính, đi trên trụ bê tông ly tâm tiết diện dây nhỏ nên không phục vụ tốt nhu cầu sinh hoạt, sản xuất và kinh doanh của nhân dân trên địa bàn, từ đó huyện đã tranh thủ các nguồn lực, cùng với ngành điện triển khai các dự án. Đến nay công trình điện được đầu tư, xây dựng, nâng cấp, bảo dưỡng hệ thống điện đến tất cả các xã, ấp và gắn điện kế cho các hộ dân, đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật của ngành điện và an toàn cho người sử dụng, nhằm phục vụ tốt nhu cầu sinh hoạt, sản xuất và kinh doanh của nhân dân trên địa bàn. Toàn huyện có tổng số hộ sử dụng điện là 43.213/43.369 hộ đạt tỷ lệ 99,64%; số hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn có 43.177/43.213 đạt 99,92%;

Hệ thống điện phân phối 15/15 xã đáp ứng cơ bản về yêu cầu kỹ thuật và được kết nối truyền dẫn liên xã, ấp với tổng số có 339,679 km đường dây trung thế và 849,72 km đường dây hạ thế và 1.074 trạm biến áp với 84.706,5 KVA. Cụ thể như sau:

- Địa bàn xã Phước Hưng: 28,25 km đường dây trung áp; 60,98 km đường dây hạ áp; 78 trạm biến áp phân phối với dung lượng 4.932,5 KVA; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn 4.233/4.245, đạt 99,72%.

- Địa bàn xã Tập Sơn: 19,22 km đường dây trung áp; 68,53 km đường dây hạ áp; 53 trạm biến áp phân phối với dung lượng 3.370 KVA; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn 2.642/2.644, đạt 99,88%.

- Địa bàn xã Tân Sơn: 16,20 km đường dây trung áp; 46,44 km đường dây hạ áp; 41 trạm biến áp phân phối với dung lượng 1.940 KVA; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn 2.210/2.214, đạt 99,82%.

- Địa bàn xã An Quảng Hữu: 28,54 km đường dây trung áp; 93,13 km đường dây hạ áp; 72 trạm biến áp phân phối với dung lượng 3.322,5 KVA; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn 3.101/3.101, đạt 100%.

- Địa bàn xã Lưu Nghiệp Anh: 39,28 km đường dây trung áp; 116,63 km đường dây hạ áp; 158 trạm biến áp phân phối với dung lượng 11.915 KVA; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn 3.853/3.859, đạt 99,84%.

- Địa bàn xã Ngãi Xuyên: 25,66 km đường dây trung áp; 75,26 km đường dây hạ áp; 54 trạm biến áp phân phối với dung lượng 3.257,5 KVA; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn 3.135/3.137, đạt 99,94%.

- Địa bàn xã Kim Sơn: 11,47 km đường dây trung áp; 39,67 km đường dây hạ áp; 49 trạm biến áp phân phối với dung lượng 3.062,5 KVA; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn 2.692/2.696, đạt 99,85%.

- Địa bàn xã Thanh Sơn: 26,86 km đường dây trung áp; 50,68 km đường dây hạ áp; 65 trạm biến áp phân phối với dung lượng 6.704 KVA; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn 2.326/2.327, đạt 99,962%.

- Địa bàn xã Hàm Tân: 23,75 km đường dây trung áp; 28,61 km đường dây hạ áp; 91 trạm biến áp phân phối với dung lượng 12,552,5 KVA; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn 2.371/2.371, đạt 100%.

- Đại bàn xã Hàm Giang: 15,97 km đường dây trung áp; 45,50 km đường dây hạ áp; 60 trạm biến áp phân phối với dung lượng 6.342,5 KVA; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn 2.278/2.278, đạt 100%.

- Địa bàn xã Đại An: 21,14 km đường dây trung áp; 46,36 km đường dây hạ áp; 69 trạm biến áp phân phối với dung lượng 5.002,5 KVA; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn 2.944/2.944, đạt 100%.

- Địa bàn xã Định An: 11,08 km đường dây trung áp; 17,19 km đường dây hạ áp; 73 trạm biến áp phân phối với dung lượng 4,477,5 KVA; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn 1.120/1.221, đạt 99,92%.

- Địa bàn xã Ngọc Biên: 18,61 km đường dây trung áp; 35,30 km đường dây hạ áp; 48 trạm biến áp phân phối với dung lượng 2.697,5 KVA; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn 2.367/2.367, đạt 100%.

- Địa bàn xã Long Hiệp: 17,29 km đường dây trung áp; 39,16 km đường dây hạ áp; 41 trạm biến áp phân phối với dung lượng 1,975 KVA; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn 2.013/2.016, đạt 99,85%.

- Địa bàn xã Tân Hiệp: 27,16 km đường dây trung áp; 70,20 km đường dây hạ áp; 61 trạm biến áp phân phối với dung lượng 2,880 KVA; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên an toàn 2.858/2.859, đạt 99,97%.

*          Đánh giá: 15/15 xã đạt tiêu chí số 4 về Điện theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND tỉnh Trà Vinh ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2021-2025.

2.2.4 Về trường học:

Năm 2015 sau khi chia tách toàn huyện có 64 trường học (gồm: 17 trường Mẫu giáo, 27 trường Tiểu học, 14 trường Trung học cơ sở, 06 trường THPT (trong đó có 01 trường Phổ thông Dân tộc nội trú) và 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Hướng nghiệp dạy nghề), có 882 phòng học (kiên cố 827, bán kiên cố 55); 151 phòng phục vụ học tập (kiên cố 146, bán kiên cố 05); 55 phòng bộ môn (kiên cố 55). Tiếp tục rà soát, sắp xếp, tổ chức lại các trường có nhiều điểm lẻ để sáp nhập gắn với việc triển khai thực hiện Đề án quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh Trà Vinh  đến  năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030. Bảo đảm nguyên tắc tạo thuận lợi cho việc học tập của học sinh gắn với các điều kiện bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục mầm non, phổ thông; khắc phục tình trạng nhiều điểm trường lẻ, trường học có quy mô nhỏ. Từ tháng 06/2022 đến nay  đã xóa 02 điểm lẻ (02 điểm tiểu học) còn lại 72 điểm phụ([5]).

Trong thời gian qua ngành giáo dục đào tạo huyện nhà đã có nhiều đổi thay, nhờ có sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành, đã được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị cho các trường học để đạt chuẩn theo Thông tư số 13/2020/TT-BGDĐT ngày 26/5/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng thời đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông 2018. Thực hiện theo Quyết định số 2098/QĐ-UBND ngày 17/10/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt chủ trương đầu tư xây dựng các công trình xây dựng các phòng học thuộc đề án mầm non 05 tuổi trên địa bàn huyện Trà Cú và Quyết định số 3422/QĐ-UBND ngày 07/10/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt chủ trương đầu tư dự án nâng cấp, mở rộng các trường mầm non trên địa bàn huyện Trà Cú (Giai đoạn 2021-2025). Tổng kinh phí đầu tư: 119.245.000.000 đồng (mở rộng diện tích đất: 58.900.000.000 đồng; đầu tư xây dựng và cải tạo phòng học, phòng phục vụ học tập 28.761.000.000 đồng, nhà, khu vệ sinh: 20.636.000.000 đồng; phòng làm việc, phòng chức năng: 10.023.000.000 đồng; đầu tư mua sắm, bổ sung ĐDĐC, thiết bị dạy học tối thiểu: 925.000.000 đồng.

Tiếp tục tăng cường đầu tư cơ sở vật chất nhằm nâng cao chất lượng dạy và học: từ tháng 6/2022 đến tháng 05/2023 sữa chữa 47 phòng học và 14 phòng học tập với số tiền 347.370.000 đồng. Với quy mô cơ sở vật chất trường, lớp ngày một khang trang đã tạo điều kiện cho các em học sinh có cơ hội học tập tốt hơn, nhất là những em học sinh ở vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Khmer, chất lượng giáo dục ở 15 xã có nhiều khởi sắc.

Tính đến năm học 2022-2023, đánh giá về cơ sở vật chất trường học theo Thông tư số 13/2020/TT-BGDĐT ngày 26/5/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo: toàn huyện có 64/64 trường có cơ sở vật chất đạt mức tối thiểu trở lên, đạt 100% (trong đó có 5/64 trường có cơ sở vật chất đạt mức tối thiểu, chiếm tỷ lệ 7,81%; có 38/64 trường có cơ sở vật chất đạt mức độ 1, chiếm tỷ lệ 59,37%; có 21/64 trường có cơ sở vật chất đạt mức độ 2, chiếm tỷ lệ 32,82%). Các trường đều có hệ thống công nghệ thông tin, 100% các trường có kết nối Internet; 100% các trường sử dụng nước sạch hợp vệ sinh, khu nhà vệ sinh riêng cho học sinh, giáo viên (có tách riêng từng khu cho nam, nữ) đảm bảo theo quy định; các trường đều có khu sân chơi, bãi tập, có cây xanh, bóng mát đảm bảo môi trường xanh, sạch, đẹp, an toàn.

*Đánh giá: 15/15 xã đạt tiêu chí số 5 về Trường học theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 8/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1036/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND tỉnh Trà Vinh ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới và Bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2021-2025.

2.2.5 Về cơ sở vật chất văn hóa:

Trước khi triển khai xây dựng nông thôn mới, cơ sở vật chất văn hóa, khu vui chơi, giải trí ở cấp huyện chưa đáp ứng được yêu cầu của người dân địa phương, các xã chưa có sân bóng đá đạt chuẩn, chưa có khu vui chơi, giải trí dành cho người cao tuổi và trẻ em, không có các phòng chức năng, nhà văn hóa ấp đa số diện tích nhỏ, cơ sở vật chất rất hạn chế, chưa có nhà văn hóa xã, ấp đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, huyện xác định cơ sở vật chất văn hóa không thể thiếu cho sự phát triển đời sống văn hóa tinh thần của người dân. Từ đó, tập trung đầu tư xây dựng mới 15/15 nhà văn hóa cấp xã, đạt 100% (tăng 66,67% so với năm 2015), có đầy đủ 03 phòng chức năng; quy mô từ 300 chỗ ngồi trở lên, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tổ chức các buổi hội nghị và sinh hoạt văn hóa của cộng đồng ở địa phương. Nâng cấp và xây dựng mới 124/124 nhà văn hóa ấp, khóm, đạt 100% (tăng 67,75% so với năm 2015), với quy mô từ 100 chỗ ngồi trở lên, phục vụ cho nhu cầu vui chơi và sinh hoạt cộng đồng, có bố trí đầy đủ cơ sở vật chất cho nhà văn hóa. Tại các nhà văn hóa, và khu vui chơi hàng ngày người dân, thanh thiếu niên đến vui chơi tập luyện thể thao, rèn luyện sức khỏe với các hoạt động như, bóng chuyền, cầu lông, cờ vua, cờ tướng, đi bộ, tập Karate, Aerobie, Yoga... Đặc biệt vào các ngày thứ bảy, chủ nhật hàng tuần tại một số nhà văn hóa ấp, khóm tổ chức giao lưu đờn ca tài tử; nhân dịp lễ - tết có tổ chức giao lưu thể thao và các trò chơi dân gian. Các thiết chế văn hóa được đầu tư đảm bảo theo quy định.

Trung tâm Văn hóa – Thông tin và Thể thao huyện được đầu tư xây dựng đạt tiêu chuẩn và hoạt động hiệu quả. Thông qua sinh hoạt cộng đồng, giúp người dân thêm gắn kết tình làng nghĩa xóm, kịp thời nắm bắt các chủ trương, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau trong cộng đồng được thắt chặt hơn.

Toàn huyện có 08 sân bóng đá hiện hữu tại các xã gồm Phước Hưng (diện tích 10.506 m2); Tập Sơn (diện tích 9.951 m2); Tân Sơn (diện tích 11.767 m2); Ngọc Biên (diện tích 10.000 m2); Long Hiệp (diện tích 6.145 m2; Đại An (diện tích 10.800 m2); Lưu Nghiệp Anh (diện tích 11.698 m2); Sân vận động huyện tại thị trấn Trà Cú có diện tích trên 14.000 m2, được đầu tư, nâng cấp với kinh phí 8 tỷ đồng và 09 sân bóng đá được quy hoạch gồm: An Quảng Hữu (tại ấp Sóc Tro Giữa, với diện tích 12.000 m2); Ngãi Xuyên (tại ấp Xoài Thum, với diện tích 7.060 m2); Thanh Sơn (tại ấp Sóc Chà B, với diện tích 10.250 m2); Kim Sơn (tại ấp Bảy Xào Giữa, với diện tích 9.493 m2); Hàm Tân (tại ấp Vàm Ray A, với diện tích 13.470 m2); Hàm Giang (tại ấp Nhuệ Tứ A, với diện tích 6.000 m2); Định An (tại ấp Giồng Giữa với diện tích 20.000 m2); Tân Hiệp (tại ấp Chông Bát, với diện tích 6.302 m2). Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có 134 sân bóng chuyền, 08 sân bóng đá mini cỏ nhân tạo, có 06 phòng tập thể dục thể hình (Gym), 71 câu lạc bộ bóng đá và 111 câu lạc bộ bóng chuyền, 01 câu lạc bộ dưỡng sinh, 01 câu lạc bộ Aerobie, yoga, karate phục vụ nhu cầu sinh hoạt thể dục - thể thao cho người dân. Nhìn chung, phong trào thể dục, thể thao trên địa bàn huyện ngày càng phát triển, tạo được sân chơi lành mạnh cho thanh thiếu niên, góp phần phát triển thể lực, tăng cường sức khỏe, tỷ lệ thanh thiếu niên vi phạm pháp luật giảm đáng kể.

* Đánh giá: 15/15 xã đạt tiêu chí số 6 về Cơ sở vật chất văn hóa theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 8/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1036/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND tỉnh Trà Vinh ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới và bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2021-2025.

2.2.6 Về cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn:

Huyện Trà Cú có 14 chợ, có 2 chợ hạng 2 và 12 chợ hạng 3. Để đáp ứng nhu cầu kinh doanh thương mại, trao đổi hàng hóa của nhân dân, huyện đã tập trung các nguồn lực đầu tư xây dựng mới, mở rộng, cải tạo các chợ thị trấn Trà Cú, Long Hiệp, chợ Đại An, Chợ Làng Cá (thị trấn Định An), chợ Phước Hưng, chợ An Quảng Hữu, chợ Hàm Giang, chợ Tha La (Ngọc Biên). Tổng diện tích chợ đã được nâng cấp, cải tạo khoảng 30.789 m2, tổng kinh phí đầu tư 11.085,375 triệu đồng (Nhà nước đầu tư 7.630 triệu đồng; doanh nghiệp đầu tư 1.686,375 triệu đồng, vận động xã hội hóa 1.769 triệu đồng) với 1.447 hộ kinh doanh, thực hiện mô hình chuyển đổi kinh doanh, khai thác và quản lý chợ, đến nay huyện Trà Cú đã thực hiện chuyển đổi giao cho doanh nghiệp/Hợp tác xã kinh doanh khai thác và quản lý là 01 chợ (chợ thị trấn Trà Cú).

Đối với các chợ xã đều có thành lập Ban quản lý, có ban hành nội quy quản lý chợ, có trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy; các điểm kinh doanh được bố trí, sắp xếp riêng theo từng khu vực, theo từng mặt hàng thuận lợi cho người bán và người mua; chợ có đầy đủ hệ thống điện, cấp thoát nước, nhà vệ sinh, bố trí thùng rác và rác thải được thu gom hàng ngày đảm bảo vệ sinh,...Có 100% xã nông thôn mới của huyện có hệ thống chợ được đầu tư khang trang, đáp ứng nhu cầu thương mại cho nhân dân.

* Đánh giá: 15/15 xã đạt tiêu chí số 7 về Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND tỉnh Trà Vinh ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới và bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2021-2025.

2.2.7 Về thông tin và truyền thông:

Toàn huyện có 15/15 xã có điểm phục vụ bưu chính (điểm bưu cục, Bưu điện-văn hóa xã) đảm bảo việc tiếp nhận, phát bưu gửi kịp thời, đúng chỉ tiêu toàn trình; đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng dịch vụ bưu chính cho các tổ chức, người dân trên địa bàn xã; 15/15 xã có phủ sóng thông tin di động, với 124 trạm thu phát sóng thông tin di động của các doanh nghiệp Viettel, VNPT, MobiFone; mạng cáp quang, mạng truy cập Internet được phát triển đến 100% ấp trong xã đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng dịch vụ, điện thoại trên mạng viễn thông di động mặt đất; dịch vụ truy nhập Internet băng rộng cố định mặt đất, di động mặt đất và đảm bảo chất lượng dịch vụ theo quy định.

Huyện có 01 Trung tâm Văn hóa -Thông tin và Thể thao; Trang tin điện tử huyện và trang tin điện tử xã, thị trấn, 15/15 xã có đài Truyền thanh; có tổng số 206 cụm loa được lắp đặt đến 115/115 ấp và được duy trì hoạt động thường xuyên, truyền tải những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn huyện.

Về cơ sở vật chất: 311 cán bộ, công chức của 15/15 xã được trang bị 311 máy tính để sử dụng, đạt 100% trong quản lý điều hành. Ngoài ra, đầu tư kinh phí trên 02 tỷ đồng để xây dựng 02 phòng họp trực tuyến của huyện, 15 phòng họp trực tuyến cho 15 xã đảm bảo liên thông từ trung ương đến địa phương.

Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành: Khu hành chính làm việc của các xã có trang bị máy tính kết nối mạng LAN, mạng Internet; cán bộ, công chức, viên chức và bộ phận chuyên môn ở các xã điều sử dụng hệ thống quản lý văn bản đều hành (I-Office), phần mềm một cửa điện tử và dịch vụ công trực tuyến (iGate), hộp thư điện tử công vụ, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động trong công việc và đẩy mạnh cải cách hành chính. Hệ thống hạ tầng thông tin và truyền thông hiện nay đã đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng của tổ chức và Nhân dân trên địa bàn huyện.

* Đánh giá: 15/15 xã đạt tiêu chí số 8 về Thông tin và truyền thông theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND tỉnh Trà Vinh ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới và bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2021-2025.

2.2.8 Về nhà ở dân cư:

  Với sự quyết liệt tập trung chỉ đạo của cả hệ thống chính trị chung sức xây dựng nông thôn mới, huyện tập trung triển khai thực hiện tốt nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế, giảm nghèo hiệu quả, trong đó có chính sách hỗ trợ nhà ở và đất sản xuất cho hộ nghèo. Từ đó, đời sống người dân được nâng lên, điều kiện sống tốt hơn, hạ tầng nhà ở dân cư ngày càng được người dân đầu tư, xây mới khang trang, cụ thể các Chương trình, chính sách: Thực hiện tốt chương trình hỗ trợ đất ở cho hộ nghèo theo Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013 - 2015 và Quyết định số 11/2014/QĐ-UBND ngày 17/3/2014 của UBND tỉnh Trà Vinh về việc quy định hỗ trợ đất ở cho hộ nghèo (ngoài đối tượng theo Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg ngày 20/05/2013 của Thủ tướng Chính phủ), Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg, Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết 04/2021/NQ-HĐND ngày 19/3/2021 của HĐND tỉnh Trà Vinh; sửa chữa, xây dựng nhà tình nghĩa cho gia đình chính sách, người có công với cách mạng theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định 2100/QĐ-UBND ngày 29/9/2021 của UBND tỉnh Trà Vinh. Ngoài ra, huyện vận động các mạnh thường quân, nhà hảo tâm xây dựng nhà đồng đội, nhà đại đoàn kết, nhà tình thương, nhà mái ấm công đoàn...; đồng thời vận động Nhân dân tập trung nguồn lực chỉnh trang nhà ở, đầu tư xây dựng mới, nâng cấp, sửa chữa nhà ở xuống cấp đảm bảo nhà ở đạt chuẩn theo quy định của Bộ Xây dựng.

  Kết quả từ các chương trình hỗ trợ trên và tự xây cất mới nhà ở dân cư khang trang của người dân giai đoạn 2015-2022 huyện đã hỗ trợ 3.522 căn nhà từ các nguồn (trong đó: 1.208 căn nhà cho gia đình có công cách mạng theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủQuyết định số 2100/QĐ-UBND ngày 29/9/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh; hỗ trợ vốn và vận động xây dựng mới, sửa chữa 2.157 nhà ở cho hộ nghèo, cận nghèo theo Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết 04/2021/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh; Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội vận động các tổ chức, doanh nghiệp, mạnh thường quân trong và ngoài huyện thực hiện chương trình an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới, đã vận động hỗ trợ xây dựng 157 căn nhà đại đoàn kết). Đến nay, 15 xã trên địa bàn huyện có 40.431 căn nhà, trong đó nhà đạt chuẩn theo quy định của Bộ Xây dựng là 38.437/40.431 căn, chiếm tỷ lệ 95,07%; số còn lại nhà chưa đạt chuẩn nhưng vẫn đảm bảo cho việc ở và sinh hoạt của gia đình, huyện không còn nhà tạm, dột nát.

  * Đánh giá: 15/15 xã đạt tiêu chí số 9 về Nhà ở dân cư theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND tỉnh Trà Vinh ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới và bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2021-2025.

2.3. Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân, giảm nghèo

2.3.1 Về nông nghiệp, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản:

Lĩnh vực nông nghiệp thủy sản giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của huyện, vì vậy phát triển nông nghiệp luôn được quan tâm đầu tư, bố trí nguồn lực để cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng phát triển bền vững. Quan tâm đầu tư phát triển vùng sản xuất nguyên liệu tập trung, sản xuất theo hướng an toàn sinh học.

  Trên cơ sở tiềm năng, lợi thế và đặt thù của huyện, để đáp ứng nhu cầu thị trường, huyện chia thành 04 tiểu vùng sản xuất cụ thể như sau:

  + Tiểu vùng 1: Phía đông quốc lộ 53 và phía bắc quốc lộ 54 được bố trí vùng sản xuất lúa tập trung, lúa chất lượng cao với quy mô hiện tính khoảng 11.500 hécta với sản lượng 150.000 tấn/năm có gắn kết sản xuất theo chuổi giá trị và có doanh nghiệp thu mua ổn định, tập trung ở các xã Phước Hưng, Tân Sơn, Tập Sơn, Tân Hiệp, Long Hiệp, Ngọc Biên, Thanh Sơn, Ngãi Xuyên. Đặc biệt là mô hình sản xuất lúa chất lượng cao (ST25) với diện tích 1.200 hécta/năm.

  +Tiểu vùng 2: Vùng sản xuất 2 màu, 1 lúa với diện tích 4.830 hécta/năm, sản lượng 422.000 tấn. Tập trung ở các xã Ngọc Biên – Long Hiệp – Hàm Giang – Đại An bao gồm: bắp giống, bắp nếp, ớt chỉ thiên, bí đỏ, dưa hấu, dưa leo, khoai môn, ... Đây là loại hình sản xuất mang tính ổn định, bền vững góp phần tăng thu nhập, giải quyết việc làm cho lao động thường xuyên ở vùng  nông thôn.

  + Tiểu vùng 3: Vùng nuôi thủy sản. Huyện có quy hoạch vùng nuôi thủy sản tập trung bao gồm các xã vùng ven sông Hậu gồm Kim Sơn, Lưu Nghiệp Anh, An Quảng Hữu, Ngãi Xuyên, Hàm Tân, Định An, thị trấn Định An và Đại An với quy mô diện tích 1.610 hécta, sản lượng 48.713 tấn/năm. Hiện nay đang tập trung đầu tư hệ thống thủy lợi, điện, giao thông tại xã Kim Sơn với số tiền trên 20 tỷ đồng, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân nuôi thủy sản từng bước mở rộng quy mô, diện tích và đa dạng về con nuôi.

  + Tiểu vùng 4: Vùng sản xuất mía. Sản xuất mía nguyên liệu được nông dân ở một số xã sản xuất qua nhiều năm. Hiện nay toàn huyện có 1.200 hécta, sản lượng 120.000 tấn/năm. Đất sản xuất mía nguyên liệu tập trung ở các xã Lưu Nghiệp Anh, Kim Sơn, An Quảng Hữu, Hàm Tân. Loại hình sản xuất này được công ty cổ phần mía đường Trà Vinh đầu tư và bao tiêu sản phẩm, đã tạo được sự an tâm ổn định trong quá trình sản xuất. Tương ứng với mỗi tiểu vùng sản xuất, huyện xác định cây trồng, vật nuôi và thủy sản chủ lực để tập trung các giải pháp chỉ đạo phát triển phù hợp, nhờ vậy đến nay sản xuất nông, ngư, lâm nghiệp của huyện phát triển theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng. Về tổng thể, kinh tế nông - ngư - lâm nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất, đồng thời giảm tỷ trọng trong cơ cấu giá trị sản xuất chung của huyện; cơ cấu giá trị sản xuất chăn nuôi, cây ăn quả, rau màu và thủy sản tiếp tục tăng.

  Tương ứng với mỗi tiểu vùng sản xuất, huyện xác định cây trồng, vật nuôi và thủy sản chủ lực để tập trung các giải pháp chỉ đạo phát triển phù hợp, nhờ vậy đến nay sản xuất nông, ngư, lâm nghiệp của huyện phát triển theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng. Về tổng thể, kinh tế nông - ngư - lâm nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất, đồng thời giảm tỷ trọng trong cơ cấu giá trị sản xuất chung của huyện; cơ cấu giá trị sản xuất chăn nuôi, cây ăn quả, rau màu và thủy sản tiếp tục tăng.

  Trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, huyện xác định là cây lúa, cây ăn trái, rau, màu thực phẩm và nuôi bò, heo, gà vịt.

  Cây lúa với tổng diện tích sản xuất trên 14.500 hécta. Huyện đang hướng tới mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp chủ lực là lúa chất lượng cao, lúa hữu cơ. Phát triển chuỗi giá trị lúa chất lượng cao theo hướng nông nghiệp sạch quy mô liên xã. Mô hình sản xuất lúa sạch, an toàn thân thiện với môi trường thích ứng biến đổi khí hậu theo hướng hữu cơ, liên kết theo chuỗi giá trị gắn với tiêu thụ sản phẩm.

  Các địa phương mạnh dạn chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng màu. Tổng diện tích gieo trồng trên địa bàn qua các năm (từ năm 2016 đến tháng 6 năm 2023) là 8.681,16 hécta, chuyển đất lúa kém hiệu quả, vườn tạp sang trồng màu 5.208,60 héc ta. Bình quân năng suất lúa đạt 6,1 tấn/héc ta.

Giá trị sản xuất bình quân trên hécta đất nông nghiệp đạt 266,46 triệu đồng/hécta/năm, tăng 166,46 triệu đồng so năm 2016.

  Cùng với trồng trọt, chăn nuôi cũng đóng góp quan trọng trong nền nông nghiệp của huyện, trong đó chăn nuôi bò, heo, gà, vịt đã góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, giúp rất nhiều hộ nông dân thoát nghèo. Tổng đàn gia súc hiện có 105.630 con, trong đó đàn bò 46.536 con, đàn heo 59.094 con; Tổng đàn gia cầm 1.875.496 con, (tăng 55,1% so với năm 2016). Cơ cấu lại ngành chăn nuôi đã giúp nâng cao năng suất, chất lượng đàn vật nuôi, giảm dần các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, từng bước hình thành các hộ chăn nuôi với quy mô trang trại, gia trại (hiện nay có mô hình trang trại gia công chăn nuôi heo sinh học khép kín, với số lượng 5.000 con/năm, sản lượng khoảng 475 tấn/năm được Công ty cổ phần chăn nuôi CP đầu tư và tiêu thụ sản phẩm). Mặt khác, việc đẩy mạnh liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm đã từng bước làm thay đổi tập quán trong sản xuất và kinh doanh, giúp người chăn nuôi chủ động trong công tác chăn nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, phòng, chống dịch bệnh và ổn định đầu ra.

  Thủy sản: Xác định nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ là thế mạnh của huyện, nhất là các xã vùng ven sông Hậu, trong những năm qua, huyện tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển ngành nuôi thủy sản. Chuyển đổi đất sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả sang nuôi thủy sản 781,3 hécta; chuyển hình thức sản xuất mía và cây trồng khác kém hiệu quả sang nuôi cá lóc, cá thác lác, tôm thẻ chân trắng thâm canh. Bình quân hàng năm có 1.250 lượt hộ nuôi các loài thủy sản trên 1.700 héc ta mặt nước, tăng 651,2 hécta so năm 2016. Khai thác, đánh bắt thủy sản ở các xã ven biển góp phần tăng tổng sản lượng thủy sản. Giá trị sản phẩm bình quân trên 01 hécta đối với đất mặt nước nuôi thủy sản 2 tỷ 165 triệu đồng/năm, tăng 93,25 triệu đồng/hécta so với năm 2016.                                                                                                                                                 

Các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp được triển khai thực hiện kịp thời, đầy đủ, nhiều chính sách đã có tác động thúc đẩy phát triển sản xuất mang lại hiệu quả cao, như: chính sách hỗ trợ cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã, ứng dụng khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa... Các công trình phục vụ sản xuất nông nghiệp hiện đảm bảo phục vụ đa mục tiêu, được duy tu, nạo vét, chống xuống cấp, khơi thông dòng chảy đáp ứng yêu cầu sản xuất, lưu thông, sinh hoạt. Công tác tư vấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật sản xuất và xây dựng các mô hình trình diễn góp phần định hướng, hỗ trợ nông dân chuyển đổi, nâng cao chất lượng, năng suất hàng hóa nông sản đáp ứng yêu cầu sản xuất đa dạng, sát yêu cầu; tay nghề của người dân liên tục được nâng lên. Hỗ trợ giống lúa mới theo Nghị định số 62/2019/NĐ-CP của Chính phủ với số giống  199.170 kg, diện tích 19.917 héc ta, tổng số tiền hỗ trợ 14,2 tỷ đồng; Hỗ trợ sản xuất rau an toàn trong nhà lưới theo Nghị quyết số 15/2021/NQ-HĐND ngày 08/12/2016 của HĐND tỉnh cho 03 mô hình, số tiền 300 triệu đồng; Hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị gắn liên kết tiêu thụ sản phẩm cho 01 HTX nông nghiệp số tiền 330 triệu đồng; Hỗ trợ nông dân thực hiện hiệu quả chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa kém hiệu quả sang trồng rau màu và các loại cây trồng khác theo Nghị quyết 03/2021 của Hội đồng nhân dân tỉnh về chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, đã hỗ trợ 13 hộ xây dựng mô hình trồng ớt và rau màu trong nhà lưới, kinh phí hỗ trợ 1.150 triệu đồng.

2.3.2 Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề, dịch vụ:

  Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề dịch vụ nông thôn phát triển, giá trị sản xuất 9 tháng đầu năm 2023 (theo giá 2010) được 8.903 tỷ đồng, đạt 63,8% kế hoạch năm,  trong đó: Khu vực I: 3.721 tỷ đồng, đạt 65,7% kế hoạch; khu vực II: 2.702 tỷ đồng, đạt 58,85% kế hoạch; khu vực III: 2.479 tỷ đồng, đạt 66,95% kế hoạch. Hệ thống chợ thương mại nông thôn ở các xã, thị trấn đáp ứng nhu cầu trao đổi, mua sắm hàng hóa của người dân. Mặt khác, huyện đã phối hợp với Sở Công thương tổ chức nhiều phiên chợ hàng Việt về nông thôn để tạo điều kiện cho người dân tiếp cận với hàng Việt Nam chất lượng cao, giá cả hợp lý. Đồng thời, thực hiện tốt quản lý thị trường, tăng cường chức năng quản lý nhà nước về chống buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng.

2.3.3 Một số kết quả chính: Thu nhập bình quân đầu người/năm và tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn của huyện.

  - Thu nhập: Trước đây đời sống người dân còn nhiều khó khăn, hiệu quả sản xuất không cao, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế không đảm bảo, tiêu chí thu nhập không đạt. Cuối năm 2016, thu nhập bình quân đầu người của huyện chỉ đạt 28 triệu đồng/người/năm.

  Khi triển khai xây dựng nông thôn mới nhiều chủ trương chính sách phát triển kinh tế - xã hội được thực hiện. Kết cấu hạ tầng nông thôn như giao thông, thủy lợi, điện, chợ nông thôn… được đầu tư, đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Trong lĩnh vực nông nghiệp, người dân mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa và phát triển bền vững, mở rộng liên doanh, liên kết theo chuỗi giá trị. Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, sử dụng các loại giống có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao, sản xuất lúa chất lượng cao, cải tạo vườn tạp, chuyển đất trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản, trồng màu có giá trị kinh tế cao như: Nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ cao, nuôi cá lóc, cá thác lác, trồng lúa chất lượng cao, trồng bắp giống, bắp lai, nuôi heo sinh học, gà đệm lót sinh học... Phát triển mạnh vùng nuôi thủy sản với nuôi tôm thẻ chân trắng, nuôi cá lóc và cá thác lác cho lợi nhuận trung bình từ 300 triệu đồng/hécta (cao gấp 10 lần so với trồng lúa và trồng cây trồng khác).

  Trong lĩnh vực công nghiệp - thương mại, xây dựng, nhiều doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh cá thể thành lập mới, hoạt động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả; lao động làm công ăn lương thuộc khu vực Nhà nước, tại doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh cá thể mang lại thu nhập cao cho người dân trên địa bàn huyện... góp phần tăng thu nhập cho người dân.

- Thu nhập bình quân đầu người: Năm 2023 đạt 62,66 triệu đồng/người/năm (tăng 35,79 triệu đồng/người/năm so với năm 2016). Thực hiện quy trình thu thập, tổng hợp và tính toán tiêu chí về thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn các xã thực hiện xây dựng nông thôn mới, theo Quyết định số 1245/QĐ-BKHĐT ngày 30/6/2022 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, kết quả năm 2023, thu nhập bình quân đầu người của huyện đạt 62,66 triệu đồng/người/năm, trong đó mức thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 60,62 triệu đồng/người/năm, cụ thể: xã Phước Hưng đạt 56,1 triệu đồng/người/năm; xã Tập Sơn đạt 68,23 triệu đồng/người/năm; xã Tân Sơn đạt 57,82 triệu đồng/người/năm; xã An Quảng Hữu đạt 56,75 triệu đồng/người/năm; xã Lưu Nghiệp Anh đạt 65,95 triệu đồng/người/năm; xã Ngãi Xuyên đạt 56 triệu đồng/người/năm; xã Thanh Sơn đạt 56 triệu đồng/người/năm, xã Kim Sơn đạt 56 triệu đồng/người/năm, xã Hàm Giang đạt 56 triệu đồng/người/năm, xã Hàm Tân đạt 62,89 triệu đồng/người/năm, xã Đại An đạt 68,23 triệu đồng/người/năm, xã Định An đạt 65 triệu đồng/người/năm, xã Ngọc Biên đạt 68,15 triệu đồng/người/năm, xã Long Hiệp đạt 60 triệu đồng/người/năm, xã Tân Hiệp đạt 56,23 triệu đồng/người/năm.

* Đánh giá: Có 15/15 xã đạt tiêu chí 10 về thu nhập theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND tỉnh Trà Vinh ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới và bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2021-2025.

- Nghèo đa chiều: Đầu năm 2020, huyện Trà Cú1.870 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 4,60% so với số hộ dân cư trên địa bàn huyện; hộ nghèo dân tộc Khmer 1.327 hộ, chiếm 5,06% so với tổng số hộ dân cư dân tộc Khmer (chiếm tỷ lệ 70,96% so với tổng số hộ nghèo toàn huyện)4.328 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 10,65% so với số hộ dân cư trên địa bàn huyện; hộ cận nghèo dân tộc Khmer 3.035 hộ, chiếm 11,58% so với tổng số hộ dân cư dân tộc Khmer (chiếm tỷ lệ 70,12% so với tổng số hộ cận nghèo toàn huyện). Trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân huyện Trà Cú đã phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; các ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn triển khai thực hiện nhiều dự án phát triển sản xuất, nhân rộng mô hình giảm nghèo hỗ trợ cho các đối tượng thụ hưởng trên địa bàn gồm hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo 36 tháng; đồng thời triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội trên địa bàn huyện, nhất là hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, đất ở, chính sách chuyển đổi nghề, nước sinh hoạt, hố xí hợp vệ sinh, thông tin,…) để giúp hộ thoát nghèo bền vững. Bên cạnh đó, phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội huyện chú trọng hỗ trợ vốn vay phát triển sản xuất đa dạng từ nguồn vốn tín dụng cho hộ nghèo, tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo tiếp cận nguồn vốn vay, các chương trình, dự án để phát triển sản xuất; hướng dẫn hộ nghèo có kế hoạch sử dụng vốn vay hiệu quả.

  Việc triển khai đồng bộ, kịp thời các chương trình, dự án, chính sách giảm nghèo đã tác động tích cực đến công tác giảm nghèo của địa phương, đến cuối năm 2021 huyện Trà Cú còn 251 hộ nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020, chiếm tỷ lệ 0,58% (giảm 4,02% so với năm 2021); hộ nghèo dân tộc Khmer 169 hộ, chiếm 0,73% so với tổng số hộ dân cư dân tộc Khmer (chiếm tỷ lệ 78,09% so với tổng số hộ nghèo toàn huyện) và hộ cận nghèo còn 2.276 hộ, chiếm tỷ lệ 5,25% so với số hộ dân cư trên địa bàn huyện (giảm 5,40% so với năm 2021); hộ cận nghèo dân tộc Khmer 1.958 hộ, chiếm 7,26% so với tổng số hộ dân cư dân tộc Khmer (chiếm tỷ lệ 86,03% so với tổng số hộ cận nghèo toàn huyện).

Triển khai thực hiện công tác tổng điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025, đầu năm 2022 huyện Trà Cú4.176 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 9,64% và 3.993 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 9,22% so với số hộ dân cư trên địa bàn huyện. Theo kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo định kỳ năm 2023 theo Công văn số: 1297/SLĐTBXH-VPBCĐGN của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Trà Vinh, ngày 12 tháng 6 năm 2023 về việc hỗ trợ, hướng dẫn rà soát, đánh giá Tiêu chí số 11 "Nghèo đa chiều", hoàn thành hồ sơ xây dựng huyện nông thôn mới trong năm 2023; kết quả rà soát đến tháng 8 năm 2023, huyện Trà Cú còn 1.011 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 2,33% so với tổng số hộ dân cư trên địa bàn huyện; hộ nghèo dân tộc Khmer 702 hộ, chiếm 2,63% so với tổng số hộ dân cư dân tộc Khmer, chiếm tỷ lệ 69,44% so với tổng số hộ nghèo toàn huyện (có 613 hộ nghèo không có khả năng lao động, chiếm 60,63% so với tổng số hộ nghèo); hộ cận nghèo còn 1.216 hộ, chiếm tỷ lệ 2,80% so với tổng số hộ dân cư trên địa bàn huyện hộ cận nghèo dân tộc Khmer 788 hộ, chiếm 2,95% so với tổng số hộ dân cư dân tộc Khmer, chiếm tỷ lệ 64,80% so với tổng số hộ cận nghèo toàn huyện (292 hộ cận nghèo không có khả năng lao động, chiếm 24,01% so với tổng số hộ cận nghèo) và toàn huyện có 15/15 xã có tỷ lệ nghèo đa chiều dưới 4%, trong đó có 04 xã (Tập Sơn, Đại An, Ngọc Biên và Long Hiệp) tỷ lệ nghèo đa chiều dưới 2,5%. (đính kèm phụ lục)

* Đánh giá: Có 15/15 xã đạt tiêu chí 11 nghèo đa chiều theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND tỉnh Trà Vinh ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới và bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2021-2025.

2.3.4 Về Lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ:

Khi chưa thực hiện xây dựng nông thôn mới, tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo rất thấp, cụ thể năm 2015 sau khi tách xã Đôn Châu và xã Đôn Xuân  cho huyện Duyên Hải thì huyện còn 90.020/97.039 lao động trong độ tuổi có việc làm, chiếm tỷ lệ 92,77%, do phần lớn lực lượng lao động làm nông nghiệp nên năng suất lao động thấp.

Khi có chủ trương xây dựng nông thôn mới, việc rà soát lao động trong độ tuổi được thực hiện chặt chẽ hơn, từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn, gắn với giới thiệu việc làm, thực hiện tốt công tác liên kết, tư vấn và giới thiệu việc làm cho người lao động ở địa phương đến làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh và lao động có thời hạn ở nước ngoài. Trong những năm qua, huyện đã liên kết đào tạo được trên 72 lớp dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn, có 1.579 học viên tham gia học tập. Đến nay, trên địa bàn huyện có 109.946/118.143 người trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động và có việc làm, đạt tỷ lệ 93,06%. Trong đó, tỷ lệ lao động có việc làm qua đào tạo của toàn huyện đạt trên 70%; có 08 xã gồm: Tập Sơn, Tân Sơn, An Quảng Hữu, Hàm Tân, Đại An, Ngọc Biên, Long Hiệp và Tân Hiệp đều đạt trên 75%); tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp chứng, chỉ trên địa bàn huyện đạt 33,38% (Trong đó, có 10 xã gồm: Phước Hưng, Tập Sơn, Tân Sơn, An Quảng Hữu, Thanh Sơn, Hàm Tân, Đại An, Ngọc Biên, Long Hiệp và Tân Hiệp đều đạt trên 30%). (Đính kèm Phụ lục).

* Đánh giá: có 15/15 xã đạt tiêu chí về lao động theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND tỉnh Trà Vinh ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới và bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2021-2025.

2.3.5 Về tổ chức sản xuất và phát triển kinh tế nông thôn:

Trà Cú xác định nông nghiệp là lĩnh vực kinh tế quan trọng của huyện giai đoạn 2020 - 2025. Vì vậy trong những năm qua Ủy ban nhân dân huyện đã ban hành Kế hoạch số 43/KH-UBND ngày 31/5/2021 về việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa; Kế hoạch số 28/KH-UBND ngày 18/3/2022 về việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; Kế hoạch số 47/KH-UBND ngày 18/5/2022 về việc phát triển xây dựng nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc sản phẩm hàng hóa trên địa bàn huyện. Phát triển nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, trong đó đề ra giải pháp trọng tâm là phải tập trung đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng tăng năng suất, tăng giá trị, hiệu quả - xem đây là giải pháp then chốt, có tính đột phá trong kế hoạch phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới tại địa phương. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của huyện ổn định trên 21.000 hécta, với nhiều loại giống cây trồng chủ lực như lúa, mía, bắp, ớt chỉ thiên; đàn vật nuôi chủ lực của huyện là nuôi bò sinh sản, nuôi bò vỗ béo, về thủy sản có tôm thẻ chân trắng, cá lóc, cá thác lác, tôm càng xanh... (về qui mô, sản lượng và chất lượng hàng hóa tăng 10 mô hình so năm 2010). Ngành nông nghiệp huyện tiếp tục thực hiện kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng liên kết chuỗi, kinh tế hợp tác và nhân rộng các mô hình sản xuất đang thực hiện hiệu quả. Hiện nay trên địa bàn huyện có 22 HTX Nông nghiệp, hoạt động gắn với thương mại, dịch vụ và thị trường tiêu thụ sản phẩm, với tổng số 958 thành viên, vốn điều lệ thực góp 19.969 triệu đồng (tăng 13 HTX so với cuối năm 2010); trong đó: (xã Phước Hưng: HTX nông nghiệp Phước Hưng; xã Tập Sơn: HTX nông nghiệp Thiện Phước; xã Tân Sơn: HTX nông nghiệp thương mại và sản xuất dịch vụ Tân Thịnh; xã An Quảng Hữu: HTX nông nghiệp An Quảng Hữu; xã Lưu Nghiệp Anh: HTX nông nghiệp Lưu Nghiệp Anh; xã Ngãi Xuyên: HTX nông nghiệp Tân Tiến Hưng, xã Thanh Sơn: HTX nông nghiệp - thủy sản Duy Linh, xã Hàm Giang: HTX nông nghiệp Phát Đạt; xã Hàm Tân: HTX nông nghiệp Phú Nông Hàm Tân; xã Đại An: HTX nông nghiệp Thương mại dịch vụ Đại An; xã Định An: HTX nông nghiệp An Thới; xã Kim Sơn: HTX nông nghiệp thủy sản Kim Sơn; xã Ngọc Biên: HTX nông nghiệp Ngọc Biên và HTX nông nghiệp Thành Công; xã Long Hiệp: HTX nông nghiệp Long Hiệp và HTX nông nghiệp hữu cơ Long Hiệp; xã Tân Hiệp: HTX nông nghiệp Tân Hiệp). Lao động thường xuyên trong HTX là 291 người, số lao động này đồng thời cũng là thành viên của HTX và có thu nhập bình quân đạt 5 triệu/tháng. Hiện nay 100% HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện đã chuyển đổi và hoạt động theo đúng Luật HTX năm 2012. Các Hợp tác xã xây dựng và thực hiện theo phương án sản xuất kinh doanh hàng năm, có trích lập quỹ đầu tư phát triển và thực hiện chế độ báo cáo tài chính theo quy định. Doanh thu bình quân của các hợp tác xã khoảng 24.037 triệu đồng/năm; lợi nhuận bình quân khoảng 83,5 triệu đồng/năm; đã tạo việc làm cho 220 lượt lao động công nhật địa phương với thu nhập từ 60 triệu đồng/người/năm. Lợi nhuận bình quân hợp tác xã mang lại cho thành viên thấp, khoảng 0,38 triệu đồng/năm, từ hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp, thuỷ sản (phân, giống, thuốc thuỷ sản,...) cho thành viên thấp hơn giá thị trường, chênh lệch trong việc thu mua giá cao hơn thị trường.

  Toàn huyện có 13 hợp tác xã có hợp đồng liên doanh, liên kết với các công ty, doanh nghiệp, thương lái (HTX nông nghiệp Thành Công, xã Ngọc Biên; HTX nông nghiệp Long Hiệp, xã Long Hiệp; HTX nông nghiệp hữu cơ Long Hiệp, xã Long Hiệp; HTX nông nghiệp Ngọc Biên, xã Ngọc Biên; HTX nông nghiệp Tân Hiệp, xã Tân Hiệp; HTX nông nghiệp thương mại và sản xuất dịch vụ Tân Thịnh, xã Tân Sơn; HTX nông nghiệp An Thới, xã Định An; HTX nông  nghiệp Tân Tiến Hưng, xã Ngãi Xuyên; HTX dịch vụ nông nghiệp Phát Đạt, xã Hàm Giang; HTX nông nghiệp thương mại dịch vụ Đại An, xã Đại An; HTX nông nghiệp Phú Nông Hàm Tân, xã Hàm Tân; HTX nông nghiệp Thiện Phước, xã Tập Sơn; HTX nông nghiệp - thủy sản Kim Sơn, xã Kim Sơn). Mỗi hợp tác xã cung cấp ít nhất một dịch vụ cơ bản, thiết yếu phục vụ thành viên HTX; các HTX nông nghiệp hỗ trợ phát triển kinh tế cho thành viên, đáp ứng nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ với chất lượng ngày càng tăng, giúp giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất và quy mô hoạt động của kinh tế thành viên. Đồng thời, còn đem lại hiệu quả về mặt xã hội, tạo việc làm, tăng thu nhập và ổn định đời sống cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội địa phương; góp phần tích cực cùng chính quyền địa phương xây dựng Nông thôn mới và nông thôn mới nâng cao. Bên cạnh đó, ngoài việc thực hiện các nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, nhiều HTX hoạt động có lãi, hàng năm đã tham gia đóng góp kinh phí cùng địa phương xây dựng nhiều công trình phúc lợi công cộng, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn.

  Năm 2023, đánh giá chất lượng hoạt động của các HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện theo Thông tư số 01/2020/TT-BKHĐT ngày 19/02/2020 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư có 06 HTX đạt loại khá, có số điểm đánh giá trung bình từ 65 điểm trở lên, riêng HTX nông nghiệp Long Hiệp, HTX nông nghiệp Tân Hiệp đánh giá đạt loại tốt, có số điểm trung bình đạt 88,5 điểm.

  Kết quả thực hiện mô hình liên kết tiêu thụ đảm bảo bền vững và hiệu quả trên địa bàn các xã của huyện:

  Thực hiện chủ trương liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, huyện đã xây dựng và phát triển được một số chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả, điển hình như:

- Trên lĩnh vực thủy sản (nuôi tôm thẻ chân trắng, cá lóc, thác lác), có mô hình nuôi cá lóc với diện tích 150 ha, sản lượng 22.500 tấn, có 215 hộ tham gia liên kết với đại lý phân phối thức ăn Minh Đức đầu tư và thu mua sản phẩm giá bán cao hơn thị trường từ 1.000 - 2.000 đồng/kg, tổng lợi nhuận của người dân tham gia mô hình cao hơn bên ngoài từ 30-50 triệu đồng/héc ta.

  - Trên lĩnh vực nông nghiệp điển hình có mô hình xã Ngọc Biên về tổ hợp tác có 24 tổ hợp tác với 658 thành viên tham gia, trong đó 15 tổ sản xuất lúa chất lượng cao với qui mô diện tích 300 hécta /vụ, có 440 thành viên tham gia, năng suất bình quân 5,5 tấn/ hécta, lợi nhuận bình quân: 28 triệu đồng/hécta, mô hình trồng màu có 09 tổ, với diện tích sản xuất 246 ha/2 vụ, có 218 thành viên, năng suất bình quân 10 tấn/ hécta, lợi nhuận bình quân: 80 triệu đồng/ hécta; Mô hình sản xuất bắp giống của xã Long Hiệp có 168 hộ đăng ký tham gia trong tổ sản xuất với diện tích 128 hécta, được Công ty giống cây trồng miền Nam đầu tư giống và phân bón, hỗ trợ về kỹ thuật, giá bao tiêu 8.300đ/kg. Mô hình trồng mía đường có 1.018 hộ trồng (trên địa bàn các xã Kim Sơn, Lưu nghiệp Anh, An Quảng Hữu), diện tích 912 hécta, sản lượng 75.000 tấn, liên kết với Công ty cổ phần Mía đường Trà Vinh hợp đồng đầu tư và thu mua mía nguyên liệu; Mô hình sản xuất lúa chất lượng cao xã An Quảng Hữu có 02 tổ hợp tác với 40 thành viên, liên kết với Hợp tác xã đầu tư và thu mua sản phẩm

  Trên lĩnh vực chăn nuôi có mô hình nuôi heo sinh học khép kín trên địa bàn xã Ngọc Biên, liên kết gia công với công ty cổ phần thức ăn CP, với số lượng 5.000 con/năm, sản lượng khoảng 475 tấn/năm được Công ty cổ phần chăn nuôi CP đầu tư và tiêu thụ sản phẩm.

 Thực hiện truy xuất nguồn gốc các sản phẩm chủ lực của xã gắn với xây dựng vùng nguyên liệu và được chứng nhận VietGAP: Các xã đều có ít nhất 01 sản phẩm chủ lực được thực hiện truy xuất nguồn gốc và được cấp giấy chứng nhận VietGAP hoặc tương đương gắn với xây dựng vùng nguyên liệu tập trung thực hiện, một số hộ thực hiện mô hình VietGAP như: Có 15/15 xã đã được cấp mã vùng trồng: Phước Hưng (VN-84-849-29464-8-23), Tập Sơn (VN-84-849-29467-2-23), Tân Sơn (VN-84-849-29470-1-23), An Quảng Hữu (VN-TVOR.0077.L.U.A.CHINA), Lưu Nghiệp Anh (VN-84-849-29476-4-23), Ngãi Xuyên (VN-84-849-29479-3-23), Kim Sơn (VN-84-849-29482-ll-23), Thanh Sơn (VN-84-849-29485-10-23), Hàm Giang (VN-84-849-29488-12-23), Hàm Tân (VN-84-849-29489-5-23), Đại An (VN-84-849-29491-7-23), Định An (VN-84-849-29494-9-23), Ngọc Biên (TV-TC-NB-GC-HTXNNTC-OT), Long Hiệp (VN-84-849-29506-6-23), Tân Hiệp (VN-84-849-29507-11-23). Trong đó có 02 xã gồm Ngọc Biên và An Quảng Hữu được cấp mã vùng trồng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, EU và Thụy Sỹ, còn lại 13 xã có mã vùng trồng trong nước, các xã đang triển khai thực hiện truy xuất nguồn gốc các sản phẩm chủ lực của xã gắn với xây dựng vùng nguyên liệu và được chứng nhận VietGAP hoặc tương đương. Hình thành vùng chuyên canh sản xuất lúa – màu tập trung tại ấp Trà Tro A, B, C và ấp Nhuệ Tứ A – B, xã Hàm Giang, ấp Sà Vần, Tha La, Tắc Hố, xã Ngọc Biên, ấp Giồng Chanh A - B, xã Long Hiệp, quy mô trên 450 héc ta. Huyện có ba làng nghề được công nhận gồm: Làng nghề sản xuất các sản phẩm từ tre, trúc, tầm vong xã Hàm Giang theo Quyết định số 2314/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh; Làng nghề đan đát xã Đại An theo Quyết định số 2030/QĐ-UBND ngày 31/12/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh; Làng nghề dệt chiếu xã Hàm Tân theo Quyết định số 2315/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh. Các Làng nghề Công tác bảo vệ môi trường tại làng nghề được thực hiện với hình thức tự quản. Làng nghề có hệ thống thu gom nước thải, nước mưa bảo đảm nhu cầu tiêu thoát nước của làng nghề; hiện tại nước thải sản xuất của các cơ sở, hộ gia đình tại làng nghề được các cơ sở, hộ gia đình tự xây dựng công trình xử lý nước thải tại chỗ không gây ô nhiễm môi trường.

Các xã trên địa bàn huyện đều có ban hành quyết định thành lập tổ Khuyến nông cộng đồng (15 tổ /15 xã với 105 thành viên), thành phần nòng cốt của tổ Khuyến nông là công chức nông nghiệp xã, đại diện các tổ chức chính trị - xã hội, nông dân điển hình sản xuất kinh doanh giỏi của xã đảm bảo hoạt động hiệu quả theo đúng chức năng, nhiệm vụ được quy định.

(Đính kèm Phụ lục Biểu tổng hợp đánh giá tình hình hoạt động của các HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Trà Cú).

 * Đánh giá: 15/15 xã đạt tiêu chí về Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân, giảm nghèo theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND tỉnh Trà Vinh ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới và bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2021-2025.

2.4. Về phát triển giáo dục, y tế, văn hoá và bảo vệ môi trường

Các nội dung về văn hóa, giáo dục, y tế và công tác bảo vệ môi trường được Ủy ban nhân dân huyện xác định thuộc các tiêu chí mềm, phải có sự chung sức, đồng thuận tham gia của tất cả người dân trên địa bàn, được xác định là nhiệm vụ quan trọng trước mắt trong xây dựng nông thôn mới, nhất là tiêu chí về môi trường.

2.4.1 Về Giáo dục và Đào tạo:

Từ khi triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, chất lượng giáo dục trên địa bàn các xã, thị trấn từng bước được củng cố và nâng lên. Việc chăm sóc giáo dục trẻ em luôn được quan tâm đúng mức, đội ngũ nhà giáo ngày càng được cng cố cả về số lượng và chất lượng đáp ứng nhiệm vụ giáo dục trong thời kỳ đổi mới giáo dục, hiện tổng số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên tính đến ngày 24/8/2023 là 1.665 người (tăng 267 người so với năm 2015). Trong đó: số giáo viên, cán bộ quản lý trình độ thạc sĩ 06/1.665 người (chiếm 0,36%), trình độ đại học 1.639/1.665 người (chiếm 98,43%), trình độ cao đẳng, trung cấp 20/1.665 người (chiếm 1,21%).

Có 27/64 trường đạt chuẩn quốc gia chiếm tỷ lệ 42,18% (Mẫu giáo: 03 trường, Tiểu học: 15 trường,  THCS: 05 trường, THPT: 05 trường).

Huy động trẻ nhà trẻ đến trường: Trẻ 3-5 tuổi đến trường tỉ lệ: 87,81%. Riêng trẻ 5 tuổi đến trường tỉ lệ: 103,8%.

Tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi: Tiểu học tỷ lệ 100%. Trung học cơ sở tỷ lệ  99%.

Công tác Phổ cập giáo dục: có 15/15 xã đạt chuẩn Phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi;  15/15 xã đạt chuẩn Phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3; 15/15 xã, đạt chuẩn Phổ cập giáo dục Trung học cơ sở mức độ 3 (tăng 10 xã); 17/17 xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục Trung học ; 17/17 xã đạt chuẩn xoá mũ chữ mức độ 2. Huyện được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi, đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3, đạt chuẩn phổ cập giáo dục Trung học cơ sở mức độ 3, đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2.

Năm học 2022-2023, có 1.811 học sinh thuộc 15/15 xã và hai thị trấn tốt nghiệp Trung học cơ sở, trong đó có 1.597 học sinh được tiếp tục học chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông, học nghề) năm học 2023-2024, tỷ lệ 88,2% so quy định.

Năm 2023 Trung tâm học tập cộng đồng của 15/15 xã và hai thị trấn được đánh giá xếp loại Tốt; Cộng đồng học tập cấp xã năm 2023 có 15/15 xã và 02 thị trấn được đánh giá xếp loại Tốt

* Đánh giá: 15/15 xã và hai thị trấn đạt tiêu chí 14 về Giáo dục và đào tạo theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND tỉnh Trà Vinh ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới và bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2021-2025.

2.4.2 Về Y tế:

Công tác chăm sóc y tế, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân được huyện chú trọng quan tâm. Trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Huyện ủy đã chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể, xã, thị trấn xây dựng kế hoạch phối hợp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, lập danh sách cấp thẻ bảo hiểm y tế kịp thời cho nhóm đối tượng tham gia. Trong giai đoạn 2015-2020 các xã thuộc chương trình 135 và xã bãi ngang ven biển được Nhà nước hỗ trợ 100% về thẻ bảo hiểm y tế. Tuy nhiên trong giai đoạn 2021-2025 các xã đã thoát ra khỏi xã thuộc chương trình hỗ trợ thì người dân phải tự nguyện mua bảo hiểm y tế theo quy định, hiện còn chủ yếu các nhóm đối tượng được cấp thẻ là hộ nghèo, cận nghèo, dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội. Còn lại nhóm đối tượng tự tham gia bảo hiểm y tế là rất cao.

Thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, Ủy ban nhân dân huyện ban hành Quyết định thành lập Ban chỉ đạo thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, đồng thời phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên gắn với nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện từng tiêu chí. Việc thành lập Ban chỉ đạo, triển khai thực hiện các chủ trương bảo hiểm y tế toàn dân, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện đã góp phần nâng tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế tăng lên đáng kể. Đến nay, tổng số người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 90%.

Giai đoạn 2015-2022, Trung tâm Y tế huyện đã triển khai thực hiện tiêu chí quốc gia về y tế xã, kết quả đến nay có 15/15 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế theo Quyết định số 4667/QĐ-BYT của Bộ Y tế; quản lý 10.167 trẻ em dưới 5 tuổi, trong đó có 431 trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi, chiếm tỷ lệ 4,33%; tỷ lệ người dân trên địa bàn các xã có sổ khám bệnh điện tử đạt trên 63,18%. Chất lượng khám, chữa bệnh tiếp tục được nâng lên, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế được đầu tư mua sắm mới, hiện đại đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân trong cộng đồng. (Đính kèm Phụ lục 7 Biểu tổng hợp kết quả thực hiện các chỉ tiêu về y tế trên địa bàn huyện Trà Cú).

* Đánh giá: 15/15 xã đạt tiêu chí số 15 về Y tế theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 2306/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND tỉnh Trà Vinh ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2021-2025.

2.4.3 Về Văn hóa:

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với xây dựng nông thôn mới được phát huy hiệu quả, đời sống văn hóa tinh thần của người dân được chăm lo. Việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội gắn với Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa trên địa bàn huyện có chuyển biến tích cực, các hủ tục lạc hậu được loại bỏ; nét đẹp văn hóa truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc trong các hoạt động lễ hội được giữ gìn và phát huy. Công tác bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình được quan tâm, nhiều câu lạc bộ phòng, chống bạo lực gia đình phát huy hiệu quả hoạt động. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức thường xuyên, đặc biệt là trong các dịp lễ, hội, tết trong vùng đồng bào dân tộc Khmer thu hút nhiều người tham gia, phát huy được các thiết chế đã đầu tư, góp phần đáng kể trong luyện tập, nâng cao thể lực, sức khỏe, hạnh phúc gia đình.

Trong phát triển xây dựng nếp sống văn hóa - nông thôn mới: 15 xã trong huyện có 40.290/40.431 hộ([6]) đăng ký gia đình văn hóa, đạt 99,6%. Năm 2022 Ban Chỉ đạo huyện xét có 111/115 ấp đạt chuẩn ấp văn hóa, đạt 96,52%, có 15/15 xã đạt chuẩn xã văn hóa nông thôn mới, đạt 100%; 15/15 xã được UBND huyện phê duyệt công nhận quy ước của 115/115 ấp đảm bảo theo Quyết định số 22/2018/QĐ-TTg, đạt 100% và được nêm yết công khai tại Nhà văn hóa ấp, khóm đúng theo quy định.

Trên địa bàn huyện có 37 chùa Khmer phật giáo Nam tông là nơi lưu giữ nhiều nét đẹp độc đáo, mang đậm bản sắc văn hoá của đồng bào Khmer; là nơi sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, chùa còn là thư viện lưu trữ các thư tịch cổ, nơi bảo tồn, lưu giữ di sản văn hóa của đồng bào Khmer qua các thời kỳ lịch sử; là nơi truyền đạo lý Phật giáo và dạy học ngữ văn Khmer, Pali Khmer cho con em đồng bào Khmer. Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của đồng bào Khmer trên địa bàn huyện, hình thành nên các sản phẩm du lịch để thu hút và giới thiệu tới du khách gần xa.

* Đánh giá: 15/15 xã đạt tiêu chí số 16 về Văn hóa theo Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 8/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1036/QĐ-UBND ngày 13/7/2022 của UBND tỉnh Trà Vinh ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới và bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao trên địa bàn tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2021-2025.

2.4.4 Về môi trường và an toàn thực phẩm:

          Khi chưa thực hiện xây dựng nông thôn mới, tình hình môi trường nông thôn còn nhiều hạn chế, rác thải sinh hoạt được thu gom nhưng chưa đảm bảo xử lý tập trung, chất thải chăn nuôi còn nhiều trường hợp thải trực tiếp ra môi trường, gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường cục bộ, cảnh quang môi trường chưa được quan tâm cải tạo, an toàn thực phẩm chưa được chú trọng, mỗi nơi làm một kiểu, chưa có sự thống nhất, do đó năm 2015 chưa có xã đạt tiêu chí môi trường.

          Sau khi chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được triển khai, công tác bảo vệ môi trường đã được các cấp chính quyền triển khai thực hiện sâu rộng và được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ.

          Các xã trên địa bàn huyện đều đánh giá đạt các chỉ tiêu về môi trường và an toàn thực phẩm, cụ thể:

Khu vực nông thôn 15/15 xã của huyện có 19 Trạm cấp nước/Nhà máy nước tập trung và 1 nhà máy cấp nước của công ty cổ phần cấp thoát nước Trà Vinh quản lý, công suất các trạm cấp nước đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt cho người dân; có 29.788 hộ/40.431 hộ sử dụng nước sạch theo quy chuẩn từ hệ thống cấp nước tập trung, đạt tỷ lệ 73,68% số hộ sinh sống ở khu vực nông thôn. Xã có tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch cao nhất là xã Ngọc Biên (2.368/ 2368 hộ đạt 100%); xã có tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch thấp nhất là xã Thanh Sơn 1.197/2.338 hộ, đạt 51,2%). Lượng nước tiêu thụ bình quân đầu người/ngày đêm là 81 lít. Bên cạnh đó, các hộ dân hiện nay đa số sử dụng nước uống đóng chai đạt quy chuẩn được sản xuất trong và ngoài địa phương.

          - Tỷ lệ cơ sở sản xuất - kinh doanh, nuôi trồng thủy sản, làng nghề đảm bảo quy định về bảo vệ môi trường:

          Thời gian qua chính quyền địa phương luôn tập trung làm tốt công tác tuyên tuyền vận động đến tất cả các cơ sở sản xuất, chăn nuôi, chế biến lương thực, thực phẩm, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Qua kiểm tra, các cơ sở đều đảm bảo vệ sinh, đảm bảo quy định về môi trường, không có cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Đến nay, trên địa bàn 15 xã có 247/ 247 cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc đối tượng có đăng ký thủ tục môi trường, thực hiện đầy đủ và đúng các nội dung về bảo vệ môi trường đã cam kết, đạt tỷ lệ 100%.

Trên địa bàn huyện các cơ sở, hộ nuôi trồng thủy sản nhỏ lẻ, quy mô hộ gia đình, các hộ nuôi đều tuân thủ theo quy hoạch nuôi trồng thủy sản của huyện, nước thải nuôi trồng thủy sản được xử lý qua ao lắng và có áp dụng biện pháp xử lý môi trường như phương pháp hóa học, sinh học trước khi thải ra môi trường.

          Huyện có ba (03) làng nghề được công nhận là Làng nghề Tiểu thủ công nghiệp (tre, trúc, tầm vong) tại xã Hàm Giang. Theo Quyết định số 2314/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh; Quyết định số 07/QĐ-UBND ngày 06/01/2021 của UBND huyện về phê duyệt Phương án bảo vệ môi trường Làng nghề tiểu thủ công nghiệp (tre, trúc, tầm vong) xã Hàm Giang; Làng nghề dệt chiếu tại xã Hàm Tân theo Quyết định số 2315/QĐ–UBND ngày 31/3/2014 của UBND tỉnh; Quyết định số 4697/QĐ-UBND ngày 02/12/2019 của UBND huyện về phê duyệt Phương án bảo vệ môi trường làng nghề dệt chiếu xã Hàm Tân; Làng nghề xã Đại An theo Quyết định số 2030/QĐ-UBND ngày 31/12/2007 của UBND tỉnh; Quyết định số 4263/QĐ-UBND huyện ngày 11/12/2018 về phê duyệt Phương án bảo vệ môi trường làng nghề  đan lát xã Đại An. Các Làng nghề Công tác bảo vệ môi trường tại làng nghề được thực hiện với hình thức tự quản. Làng nghề có hệ thống thu gom nước thải, nước mưa bảo đảm nhu cầu tiêu thoát nước của làng nghề; hiện tại nước thải sản xuất của các cơ sở, hộ gia đình tại làng nghề được các cơ sở, hộ gia đình tự xây dựng công trình xử lý nước thải tại chỗ không gây ô nhiễm môi trường.

          - Về xây dựng cảnh quan, môi trường sáng - xanh - sạch - đẹp, an toàn:

          Thực hiện Chỉ thị số 27-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Kế hoạch số 04/ KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh. Theo đó, việc xây dựng cảnh quan môi trường, hệ thống cây xanh trên địa bàn được tăng cường trồng mới phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt, đảm bảo cảnh quan cũng như cải thiện môi trường không khí, đặc biệt tại trụ sở cơ quan, trường học, các tuyến đường giao thông... Các tuyến đường làng, ngõ xóm, kênh mương, ao hồ và các khu vực công cộng được vệ sinh môi trường thường xuyên sạch sẽ, thông qua các phong trào "Thứ bảy tình nguyện", “Chủ Nhật xanh” của các xã, thị trấn; phong trào “5 không 3 sạch”, “Tuyến đường hoa” của Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, “Câu lạc bộ bảo vệ môi trường” của Hội Cựu Chiến binh, Cơ sở tôn giáo; 100% số xã đạt chỉ tiêu cảnh quan xanh, sạch, đẹp. Trong năm 2022, tổ chức các hoạt động hưởng ứng chỉ thị 15 (nay là chỉ thị 27) được 1.643 cuộc; lực lượng tham gia 49.433 người ( trong đó 15.512 người dân), chiều dài thực hiện 1.320 km, lượng rác thu gom 34,629 m3, cây xanh dọc các tuyến đường 484.590 cây (hoa giấy, bông trang, cây điệp lùn….); Trong 6 tháng đầu năm 2023, tổ chức các hoạt động hưởng ứng chỉ thị 27 được 671 cuộc, lực lượng tham gia 14.826 người (trong đó 5.712 người dân), chiều dài thực hiện 272,449 km, lượng rác thu gom 272,44 m3,  cây xanh dọc các tuyến đường  484.809 cây (hoa giấy, bông trang, cây điệp lùn ….). Cơ quan, trường học trên địa bàn các xã nông thôn mới đều đảm bảo xanh - sạch - đẹp và được công nhận cơ quan văn hoá, đạt 100%.

          - Về đất cây xanh sử dụng công cộng tại điểm dân cư nông thôn: Các xã trên địa bàn huyện có bố trí quỹ đất, xây dựng khu vui chơi công cộng được trồng cây xanh (gồm: bằng lăng, sao, dầu, sưa đỏ và một số loài hoa thân thảo) với tổng diện tích hơn 568.726m2; có 37 điểm chùa với tổng diện tích 555.000m2 là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng của đồng bào dân tộc Khmer, được trồng cây xanh thân gỗ lớn như dầu, sao, bằng lăng tím; có quảng trường văn hóa được bố trí 8.900m2 để trồng cây xanh trong khuôn viên. Tổng diện tích đất cây xanh sử dụng công cộng tại điểm dân cư toàn huyện đạt trên  568.725,8 m2/ 135.801 người, đạt 4,19 m2/ người

- Về mai táng, hỏa táng phù hợp với quy định và theo quy hoạch: Về mai táng, hỏa táng phù hợp với quy định và theo quy hoạch: Trên địa bàn 15 xã có 37 nhà hỏa táng tại các chùa Khmer, 01 nghĩa trang liệt sĩ cấp huyện, 11 nghĩa trang nhân dân. Các nhà hoả táng đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường, có hệ thống xử lý khí thải, sau khi hỏa táng xong nước xử lý khói được tháo xuống 2 hầm chứa có xử lý sát trùng, lắng, lọc bằng than và vôi.

Theo Đồ án Quy hoạch xây dựng nông thôn mới của các xã trên địa bàn huyện đã quy hoạch 11 nghĩa trang nhân dân tại các xã Phước Hưng, Ngọc Biên, Đại An, Lưu Nghiệp Anh, Long Hiệp, Hàm Tân, Thanh Sơn, An Quảng Hữu, Tân Sơn, Tập Sơn và Ngãi Xuyên. Các nhà hỏa táng nghĩa và nghĩa trang nhân dân trên địa bàn huyện được xây dựng đảm bảo đúng quy định và theo quy hoạch.

Ngoài ra, người dân thực hiện việc mai táng theo tập tục địa phương, hình thức địa táng tại đất nhà hoặc tại các nghĩa địa nhân dân và nghĩa địa gia đình, dòng tộc. Diện tích nghĩa địa nhân dân trên địa bàn huyện nằm rải rác tại các xã, việc chôn cất tại các nghĩa địa xa khu dân cư, không gây tác động xấu đến môi trường đặc biệt là nguồn nước sinh hoạt và sản xuất đối với các hộ dân xung quanh. Việc tang được tổ chức theo quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, pháp luật về y tế và các quy định pháp luật khác có liên quan.

Thực hiện nếp sống văn minh trong việc tang theo quy định tại Thông tư số 04/2011/TT-BVHTTDL ngày 21/01/2011 của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch (Hướng dẫn số 734/HD-SVHTTDL ngày 11/7/2017 của Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch): tất cả các xã trên địa bàn huyện đã tổ chức triển khai thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng, Nhà nước về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang; từ đó, nhận thức của người dân có nhiều chuyển biến tích cực, tổ chức việc cưới, việc tang trên địa bàn được thực hiện theo đúng quy định.

Trạm Y tế các xã đều có hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc đảm bảo vệ sinh trong hoạt động mai táng trên địa bàn. Đến nay, tất cả các xã không vi phạm quy định về vệ sinh trong mai táng, hỏa táng người chết do dịch bệnh nguy hiểm hoặc không do dịch bệnh gây ra; thực hiện đúng theo quy định tại Thông tư số 21/2021/TT-BYT ngày 26/11/2021 của Bộ Y tế quy định về vệ sinh trong mai táng hỏa táng.

- Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn không nguy hại trên địa bàn được thu gom, xử lý theo quy định:

* Tình hình ban hành và thực hiện đề án thu gom, quản lý chất thải rắn:

Huyện Trà Cú thực hiện thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt đúng theo Quyết định số 2114/QĐ-UBND ngày 10/6/2021 của Ủy ban nhân dân huyện về phê duyệt Đề án thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Trà Cú giai đoạn 2021-2023.

Với quy mô dân số 147.419 nhân khẩu, tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn huyện khoảng 70,61tấn/ngày[7]. Huyện Trà Cú hợp đồng với HTX xây dựng – Môi trường Trà Vinh theo hợp đồng số 16/HĐ-PTNMT về việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Trà Cú giai đoạn 2021- 2023. Huyện bố trí 878 thùng rác tại các điểm chợ, trường học, khu dân cư, trạm y tế và trên các đường xe thu gom. Đơn vị thu gom bố trí 05 xe chuyên dụng ( 2 xe chính, 3 xe tăng cường) đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về BVMT để thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt hàng ngày của huyện với khối lượng 26,2 tấn/ngày về xử lý tại Bải rác Long Hiệp, Bải rác Tiểu Cần, Bải rác Cầu Ngang.

Các xã triển khai, hướng dẫn cho các hộ gia đình tham gia các mô hình phân loại, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại hộ gia đình, đến nay có 110 mô hình với 14.709  hộ tham gia (tương đương khoảng 34.137 người), ước tính khối lượng xử lý khoảng 16,61 tấn/ngày.

Đối với các hộ gia đình tại vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa chưa có xe thu gom rác đến được thì thực hiện xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo hướng dẫn của chính quyền địa phương bằng cách ủ phân